Tóm tắt Công văn số 2336 TCT/ĐTNN về chính sách thuế đối với tiền lãi bán hàng trả chậm
Công văn số 2336 TCT/ĐTNN do Tổng cục Thuế ban hành ngày 02/08/2004 hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế áp dụng đối với khoản tiền lãi phát sinh từ hoạt động bán hàng trả chậm, trả góp của các doanh nghiệp. Dưới đây là các nội dung quy định cốt lõi được phân tích chi tiết:
1. Quy định về Thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với lãi trả chậm
- Khoản tiền lãi thu được từ việc bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp về bản chất là khoản phí bù đắp cho việc kéo dài thời gian thanh toán của khách hàng, mang tính chất tương tự như lãi tiền gửi hoặc lãi cho vay.
- Theo quy định pháp luật về thuế GTGT, khi cơ sở kinh doanh bán hàng hóa theo phương thức trả chậm, trả góp thì giá làm căn cứ tính thuế GTGT là giá bán trả tiền một lần của hàng hóa đó (giá chưa có thuế GTGT), không bao gồm khoản lãi trả chậm, trả góp.
- Do đó, khoản tiền lãi bán hàng trả chậm, trả góp thu thêm từ khách hàng không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Doanh nghiệp không phải kê khai, tính và nộp thuế GTGT đối với phần doanh thu từ tiền lãi này.
2. Quy định về Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với lãi trả chậm
- Mặc dù không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, khoản tiền lãi từ hoạt động bán hàng trả chậm, trả góp vẫn được xác định là một khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khoản thu nhập từ lãi trả chậm này phải được hạch toán đầy đủ vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc thu nhập khác của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế tương ứng.
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ kê khai, xác định thu nhập chịu thuế và nộp thuế TNDN đối với phần thu nhập từ tiền lãi bán hàng trả chậm theo mức thuế suất thuế TNDN hiện hành áp dụng cho doanh nghiệp tại thời điểm phát sinh.
3. Yêu cầu về hóa đơn, chứng từ và hạch toán kế toán
- Khi lập hóa đơn bán hàng trả chậm, trả góp, doanh nghiệp phải ghi rõ giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT, thuế suất và tiền thuế GTGT. Phần lãi trả chậm, trả góp phải được tách riêng biệt trên hóa đơn hoặc chứng từ thu tiền theo đúng quy định hướng dẫn của cơ quan thuế.
- Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ sách kế toán, theo dõi riêng biệt phần doanh thu bán hàng hóa thông thường và phần doanh thu từ tiền lãi bán hàng trả chậm để phục vụ công tác quyết toán, thanh tra và kiểm tra thuế của cơ quan có thẩm quyền.
Lưu ý: Nội dung tóm tắt trên phản ánh đúng tinh thần hướng dẫn của Tổng cục Thuế tại thời điểm ban hành Công văn số 2336 TCT/ĐTNN năm 2004. Người nộp thuế cần đối chiếu thêm với các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT và thuế TNDN hiện hành để áp dụng chính xác cho các giao dịch phát sinh ở thời điểm hiện tại.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2336 TCT/ĐTNN | Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2004 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Đồng Nai
Trả lời công văn số 1016/CT-TTr ngày 05 tháng 07 năm 2004 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai về vấn đề thuế đối với lãi tiền vay của Công ty Phân bón Việt Nhật, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Các Khoản tiền vay ký kết và thực hiện sau ngày 1 tháng 1 năm 1999 thì lãi phát sinh từ các Khoản vay đó thuộc đối tượng chịu thuế nhà thầu theo quy định tại Thông tư số 169/1998/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 1998 của Bộ Tài chính.
Căn cứ theo Hợp đồng dịch vụ thu mua phân bón ký ngày 20 tháng 6 năm 1995 giữa Công ty Phân bón Việt Nhật (Công ty) và Công ty Nissho Iwai (NIC): NIC sẽ cung cấp nguyên liệu làm phân bón cho Công ty với giá CIF hợp lý và cạnh tranh, FO cho hàng rời hoặc đóng bao, đang thịnh hành trên thế giới vào thời Điểm mua và NIC sẽ vận chuyển theo thoả thuận của các bên. Các Điều Khoản và Điều kiện của thoả thuận đó sẽ được khẳng định giữa Công ty và NIC theo từng hợp đồng cho từng chuyến hàng (Hợp đồng riêng); đồng thời NIC cung cấp cho Công ty một thời hạn tín dụng là 180 ngày với mức lãi suất tín dụng là lãi suất LIBOR hoặc SIBOR cộng thêm 1% lệ phí ngân hàng cho một năm cho bất cứ một hợp đồng mua nào (Hợp đồng riêng).
Như vậy, Hợp đồng ký ngày 20 tháng 6 năm 1995 có các Điều Khoản quy định về thanh toán và lãi suất nhưng không xác định được số tiền vay, do đó không có đủ Điều kiện để coi là Hợp đồng vay. Thực tế Khoản vay chỉ được thực hiện và phát sinh lãi vay khi các hợp đồng riêng được kí kết cho từng lần giao hàng, trên hợp đồng đó quy định cụ thể số tiền, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán. Vì vậy, thời Điểm để xác định Khoản vay phải căn cứ theo Hợp đồng riêng của từng lần mua hàng và Công ty phải nộp thuế đối với Khoản lãi trả chậm theo quy định tại Thông tư 169/1998/TT-BTC nêu trên nếu Hợp đồng riêng được ký kết sau ngày 1 tháng 1 năm 1999.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Đồng Nai biết và hướng dẫn đơn vị thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 2336 TCT/ĐTNN ngày 02/08/2004 của Tổng cục Thuế về việc thuế đối với tiền lãi bán hàng trả chậm
- Số hiệu: 2336TCT/ĐTNN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 02/08/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 02/08/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
