Tóm tắt Công văn số 2316 TCT/DNK ngày 30/07/2004 của Tổng cục Thuế về việc hướng dẫn lập hoá đơn GTGT
Công văn số 2316 TCT/DNK được Tổng cục Thuế ban hành nhằm tháo gỡ vướng mắc và hướng dẫn chi tiết cho các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh thực hiện việc lập hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) đối với một số trường hợp đặc thù trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Dưới đây là nội dung phân tích chi tiết các quy định cốt lõi của văn bản này.
1. Hướng dẫn lập hóa đơn đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ
Tổng cục Thuế đưa ra hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp cơ sở kinh doanh xuất dùng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất ra hoặc mua về để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội bộ:
- Trường hợp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh chịu thuế GTGT: Khi xuất hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ để phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất, kinh doanh các mặt hàng chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải lập hóa đơn GTGT. Trên hóa đơn ghi rõ là hàng tiêu dùng nội bộ phục vụ sản xuất kinh doanh; dòng thuế suất và tiền thuế GTGT không ghi và được gạch chéo.
- Trường hợp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh không chịu thuế GTGT: Nếu hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh các đối tượng không chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải lập hóa đơn GTGT, tính thuế GTGT đầu ra theo mức thuế suất quy định đối với loại hàng hóa, dịch vụ đó để kê khai và nộp thuế.
- Mục đích hạch toán: Hóa đơn lập trong các trường hợp này là căn cứ pháp lý để doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh và thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.
2. Quy định lập hóa đơn đối với hàng hóa dùng để khuyến mại, quảng cáo, biếu, tặng
Đối với các hoạt động xúc tiến thương mại và đối ngoại của doanh nghiệp, việc lập hóa đơn được hướng dẫn như sau:
- Nghĩa vụ lập hóa đơn: Khi xuất hàng hóa, dịch vụ để làm quà tặng, biếu, hoặc dùng cho mục đích khuyến mại, quảng cáo phục vụ sản xuất kinh doanh, cơ sở kinh doanh bắt buộc phải lập hóa đơn GTGT.
- Cách thức ghi hóa đơn: Trên hóa đơn phải ghi đầy đủ các chỉ tiêu về tên hàng hóa, số lượng, chủng loại; đồng thời ghi rõ là hàng xuất khuyến mại, quảng cáo, biếu, tặng không thu tiền.
- Xác định giá tính thuế: Giá tính thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để biếu, tặng, khuyến mại, quảng cáo được xác định theo giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động. Doanh nghiệp phải kê khai, tính thuế GTGT đầu ra đối với các hóa đơn này.
3. Ý nghĩa pháp lý và lưu ý quan trọng đối với người nộp thuế
Việc tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn tại Công văn số 2316 TCT/DNK mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp:
- Đảm bảo tính hợp pháp của chứng từ kế toán: Giúp doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ sổ sách kế toán, tránh các sai sót khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra quyết toán thuế tại đơn vị.
- Hạn chế rủi ro bị xử phạt: Việc không lập hóa đơn hoặc lập hóa đơn sai quy định đối với hàng tiêu dùng nội bộ, hàng khuyến mại có thể bị cơ quan quản lý thuế áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn hoặc hành vi trốn thuế.
- Bảo vệ quyền lợi khấu trừ thuế: Giúp doanh nghiệp có cơ sở vững chắc để được chấp thuận khấu trừ thuế GTGT đầu vào của nguyên vật liệu, hàng hóa mua vào phục vụ cho các hoạt động tiêu dùng nội bộ và xúc tiến thương mại.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2316 TCT/DNK | Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2004 |
Kính gửi: Thời báo kinh tế Việt Nam
Trả lời công văn số 108/CV-TBKT ngày 20 tháng 5 năm 2004 của Thời báo kinh tế Việt Nam về việc hạch toán kế toán và xuất hoá đơn GTGT, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Lập hoá đơn bán hàng:
- Trường hợp 1: công ty ký hợp đồng ngoại mua hàng hoá của Công ty A có trụ sở tại Mỹ, công ty trực tiếp thanh toán tiền hàng bằng chuyển khoản qua ngân hàng, sau đó công ty ký hợp đồng nội bán lô hàng trên cho một công ty B trong nước (giao hàng tại Mỹ), công ty B chịu trách nhiệm làm các thủ tục để nhập khẩu hàng vào Việt Nam, sau khi nhập hàng công ty B thanh toán tiền mua hàng theo hợp đồng đã ký, nếu Công ty lập hoá đơn GTGT giao cho công ty B, trên hoá đơn không ghi thuế GTGT hoặc ghi thuế GTGT bằng không là sai theo quy định vì tại điểm 5./1, Mục IV, Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT thì trên hoá đơn GTGT không ghi thuế suất thuế GTGT đối với các trường hợp bán hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT; bán cho các đối tượng được miễn thuế GTGT; bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ. Trường hợp Công ty lập hoá đơn GTGT chỉ ghi phần chênh lệch được hưởng giữa giá bán và giá mua là không đúng vì hoạt động của công ty là hoạt động mua bán hàng hoá, không phải hoạt động môi giới. Công ty phải lập hoá đơn GTGT, trên hoá đơn phải ghi số tiền nhận được và thuế GTGT theo thuế suất quy định.
- Trường hợp 2: Công ty ký hợp đồng ngoại mua hàng của công ty A tại Pháp, công ty thanh toán tiền cho công ty A, công ty ký hợp đồng bán hàng cho công ty B có trụ sở kinh doanh tại Lào (giao hàng tại Pháp), công ty B làm các thủ tục để nhập khẩu hàng hoá đó, sau khi nhập hàng công ty B thanh toán tiền mua hàng theo hợp đồng đã ký. Theo quy định tại điểm 1.1, Mục IV, Phần B Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn thì công ty phải lập hoá đơn khi bán hàng, giá bán ghi trên hoá đơn là giá công ty B thanh toán khi bán hàng.
2. Hoá đơn đầu vào: Theo quy định tại điểm 1, mục V, phần B Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn thì trong vòng 10 ngày khi thay đổi địa điểm sản xuất, kinh doanh, văn phòng giao dịch, tổ chức, cá nhân phải gửi cho cơ quan Thuế sơ đồ, địa điểm mới. Nếu cơ sở đã thông báo bằng văn bản tới cơ quan Thuế và các cơ quan quản lý theo quy định thì hoá đơn đầu vào ghi địa điểm kinh doanh mới là đúng, các hoá đơn này là căn cứ để cơ sở kinh doanh kê khai thuế GTGT đầu vào và hạch toán chi phí.
Tổng cục Thuế trả lời để Thời báo kinh tế Việt Nam biết.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
- 1Thông tư 120/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 89/2002/NĐ-CP về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn do Bộ Tài Chính ban hành
- 2Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
Công văn số 2316 TCT/DNK ngày 30/07/2004 của Tổng cục Thuế về việc hướng dẫn lập hoá đơn GTGT
- Số hiệu: 2316TCT/DNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 30/07/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/07/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
