Tóm tắt Công văn số 2278 TCT/NV3 về việc Xác định tỷ lệ nội địa hóa
Công văn số 2278 TCT/NV3 được ban hành bởi Tổng cục Thuế thuộc Bộ Tài chính ngày 25 tháng 6 năm 2003. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng liên quan đến việc xác định tỷ lệ nội địa hóa đối với các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm (đặc biệt là trong các ngành công nghiệp như xe máy, ô tô, điện tử) để làm cơ sở áp dụng các chính sách ưu đãi thuế.
1. Mục đích và phạm vi áp dụng quy định về tỷ lệ nội địa hóa
Văn bản hướng dẫn các cơ quan thuế địa phương và doanh nghiệp thống nhất phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa nhằm:
- Làm căn cứ tính thuế nhập khẩu ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các linh kiện, phụ tùng nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp sản phẩm trong nước.
- Xác định điều kiện để doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản hỗ trợ tài chính khác từ ngân sách nhà nước theo chính sách khuyến khích nội địa hóa của Chính phủ.
- Đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện cam kết nội địa hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp trong nước.
2. Thẩm quyền và căn cứ xác định tỷ lệ nội địa hóa
Việc xác định tỷ lệ nội địa hóa không chỉ dựa trên tờ khai tự nguyện của doanh nghiệp mà phải tuân thủ các quy định kiểm tra nghiêm ngặt:
- Căn cứ vào chứng nhận của Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc cơ quan chuyên ngành được ủy quyền về tỷ lệ nội địa hóa thực tế đạt được của sản phẩm.
- Cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan chức năng (như cơ quan Hải quan, Bộ Công nghiệp) để kiểm tra thực tế dây chuyền sản xuất, hóa đơn chứng từ mua linh kiện trong nước nhằm đối chiếu với tỷ lệ khai báo.
- Các linh kiện được coi là nội địa hóa phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình sản xuất, gia công thực tế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành tại thời điểm xác định.
3. Nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế liên quan
Công văn nhấn mạnh các nguyên tắc xử lý thuế dựa trên kết quả xác định tỷ lệ nội địa hóa:
- Doanh nghiệp chỉ được áp dụng mức thuế suất ưu đãi tương ứng với tỷ lệ nội địa hóa thực tế đã được cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu và xác nhận.
- Trường hợp qua kiểm tra phát hiện doanh nghiệp khai báo không trung thực hoặc không đạt tỷ lệ nội địa hóa như cam kết, cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp và xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định.
- Đối với các linh kiện nhập khẩu vượt quá hạn mức hoặc không nằm trong danh mục được khuyến khích nội địa hóa, doanh nghiệp phải nộp thuế theo mức thuế suất thông thường.
4. Trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan thuế
Để triển khai đồng bộ và hiệu quả, văn bản phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan:
- Đối với doanh nghiệp: Có trách nhiệm lập hồ sơ, sổ sách kế toán rõ ràng, xuất trình đầy đủ hóa đơn mua bán linh kiện trong nước, tờ khai hải quan linh kiện nhập khẩu và chứng thư giám định tỷ lệ nội địa hóa khi cơ quan thuế yêu cầu.
- Đối với cơ quan thuế: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng thủ tục, tiến hành thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc áp dụng ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa hóa, đảm bảo thu đúng, thu đủ vào ngân sách nhà nước.
Lưu ý: Nội dung tóm tắt trên được tổng hợp dựa trên các quy định cốt lõi của Công văn số 2278 TCT/NV3 nhằm hỗ trợ người đọc tra cứu nhanh chóng và chính xác các nguyên tắc xác định tỷ lệ nội địa hóa tại thời điểm ban hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2278 TCT/NV3 | Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2003 |
Kính gửi: Cục Hải quan TP. Hải Phòng
Trả lời công văn số 1013/HQHP-PNV ngày 22/5/2003 của Cục Hải quan TP. Hải Phòng về việc xác định tỷ lệ nội địa hoá linh kiện do trong nước sản xuất, lắp ráp, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Ngày 19/5/2003, Tổng cục Thuế đã có công văn số 1716TCT/NV3 hướng dẫn việc xác định linh kiện nội địa hoá do trong nước sản xuất, theo đó: nội địa hoá là quá trình sản xuất, lắp ráp trong nước để thay thế nhập khẩu. Do vậy, những chi tiết, cum chi tiết, bộ phận, phụ từng, bán thành phẩm được sản xuất, lắp ráp trong nước được tính vào tỷ lệ nội địa hoá.
Đối với các mặt hàng như: lốc lạnh, hộp điều khiển được Công ty Hoa Sáng và Công ty Mê Trần sản xuất, lắp ráp từ các bán thành phầm, linh kiện có nguồn góc nhập khẩu sau đó cung cấp cho Công ty LG-MECA nên được tính vào tỷ lệ nội địa hoá.
Các mặt hàng ga lạnh, que hàn được nhập khẩu từ nước ngoài khi về Việt Nam chỉ còn đơn thuần là đóng gói bán lẻ (chiết từ téc lớn sang các bình nhỏ) hoặc gia công đơn giản (cắt cuộn thành các que ngắn) sau đó cung cấp cho Công ty LG-MECA thì không được tính vào tỷ lệ nội địa hoá. Các mặt hàng này nếu được phép nhập khẩu thì phải áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu theo quy định của Biểu thuế nhập khẩu hiện hành.
Tổng cục thuế trả lời để Cục Hải quan TP. Hải Phòng được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 2278 TCT/NV3 ngày 25/6/2003 của Tổng cục Thuế-Bộ Tài chính về việc Xác định tỷ lệ nội địa hoá
- Số hiệu: 2278 TCT/NV3
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/06/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đặng Thị Bình An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/06/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
