Giới thiệu về Công văn số 1990/LĐTBXH-LĐVL
Công văn số 1990/LĐTBXH-LĐVL được ban hành ngày 21/06/2004 bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Đây là văn bản hành chính mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ, nhằm giải đáp các thắc mắc và tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các đơn vị, doanh nghiệp và người lao động trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động.
Thông tin thuộc tính hệ thống của văn bản:
- Tên văn bản: Công văn số 1990/LĐTBXH-LĐVL về việc giải đáp hợp đồng lao động.
- Cơ quan ban hành: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Ngày ban hành: 21/06/2004.
- Lĩnh vực áp dụng: Lao động - Tiền lương, Hợp đồng lao động.
Nội dung định hướng và phạm vi giải đáp của văn bản:
Dựa trên tiêu đề và tính chất pháp lý của văn bản, Công văn số 1990/LĐTBXH-LĐVL tập trung giải quyết các nhóm vấn đề cốt lõi sau đây:
- Làm rõ các loại hợp đồng lao động: Hướng dẫn phân biệt và áp dụng đúng các loại hợp đồng lao động (hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng xác định thời hạn, hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định) phù hợp với từng đối tượng và tính chất công việc.
- Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng: Đảm bảo tính tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động, không trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể.
- Giải quyết vướng mắc thực tế: Đưa ra ý kiến chuyên môn từ cơ quan quản lý nhà nước về lao động đối với các trường hợp đặc thù phát sinh trong thực tiễn sử dụng lao động mà các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm đó chưa chi tiết hóa.
Lưu ý: Do phần trích xuất chi tiết nội dung cụ thể từ Điều 1 đến Điều 4 chưa được cung cấp đầy đủ trong hồ sơ dữ liệu gốc, người dùng cần tham chiếu trực tiếp văn bản đính kèm hoặc liên hệ cơ quan ban hành để cập nhật chi tiết từng điều khoản giải đáp cụ thể.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1990/LĐTBXH-LĐVL | Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2004 |
Kính gửi: Ban Bạn đọc Báo Nhân dân
Trả lời công văn số 2490-XH - BĐ/ND ngày 02/6/2004 của quý Ban về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Điều 27 và Điều 37 của Bộ luật Lao động, thì quyền lợi của người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động không xác định thời hạn có sự khác nhau trong ký kết, chấm dứt hợp đồng như sau:
1. Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà khi ký kết hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. Do đó người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng khi hợp đồng hết hạn hoặc có quyền đơn phương chấm dứt trước thời hạn, nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trong những trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp đồng (báo trước ít nhất 03 ngày).
b) Không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng (báo trước ít nhất 03 ngày);
c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động (báo trước ít nhất 03 ngày);
d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng (báo trước ít nhất 30 ngày);
đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy Nhà nước (báo trước ít nhất 30 ngày);
e) Người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc (báo trước theo thời hạn chỉ định của thầy thuốc);
g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị ba tháng liền đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được phục hồi (báo trước ít nhất 03 ngày);
2. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà khi ký kết hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Do đó người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động khi công việc theo hợp đồng đã hoàn thành hoặc có quyền đơn phương chấm dứt theo ý muốn, nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 45 ngày (trừ trường hợp bị ốm đau, tai nạn đã điều trị sáu tháng liền thì chỉ báo trước ít nhất 03ngày).
Đề nghị quý Ban tham khảo để trả lời bạn đọc./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |
Công văn số 1990/LĐTBXH-LĐVL ngày 21/06/2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc giải đáp hợp đồng lao động
- Số hiệu: 1990/LĐTBXH-LĐVL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 21/06/2004
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Nguyễn Đại Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/06/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
