Tóm tắt Công văn số 1984 TCT/DNK ngày 30/06/2004 của Tổng cục Thuế về việc hạch toán kế toán và tính thuế GTGT khi giảm giá
Công văn số 1984 TCT/DNK được Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện thống nhất việc hạch toán kế toán và xác định thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
1. Quy định về xác định giá tính thuế GTGT khi thực hiện giảm giá
Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể phương pháp xác định giá tính thuế GTGT đối với từng trường hợp giảm giá hàng bán như sau:
- Trường hợp giảm giá trực tiếp trên hóa đơn: Khi người mua mua hàng với số lượng lớn hoặc thuộc đối tượng được hưởng chính sách giảm giá ngay tại thời điểm mua, giá bán ghi trên hóa đơn là giá đã giảm. Thuế GTGT sẽ được tính trực tiếp trên giá bán đã giảm này.
- Trường hợp giảm giá sau khi đã xuất hóa đơn bán hàng: Đối với các khoản giảm giá được thực hiện sau khi đã giao hàng và lập hóa đơn (do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách, hoặc giảm giá theo doanh số mua hàng đạt mức quy định trong một khoảng thời gian), bên bán và bên mua phải lập biên bản hoặc có văn bản thỏa thuận ghi rõ lý do giảm giá, số lượng, quy cách hàng hóa và số tiền giảm giá theo đúng thực tế.
- Lập hóa đơn điều chỉnh: Bên bán phải lập hóa đơn điều chỉnh giảm giá bán và giảm thuế GTGT đầu ra. Hóa đơn điều chỉnh phải ghi rõ số, ngày, tháng của hóa đơn đã lập trước đó cần điều chỉnh, nội dung điều chỉnh giảm giá và số tiền thuế GTGT điều chỉnh giảm.
2. Hướng dẫn hạch toán kế toán đối với khoản giảm giá hàng bán
Việc hạch toán kế toán đối với các khoản giảm giá phải được thực hiện đồng thời ở cả bên bán và bên mua theo đúng chế độ kế toán hiện hành:
- Đối với bên bán (bên giao hàng):
- Khoản giảm giá hàng bán phát sinh sau khi bán hàng được hạch toán vào tài khoản giảm trừ doanh thu (Tài khoản giảm giá hàng bán hoặc Tài khoản chiết khấu thương mại tùy theo tính chất giao dịch).
- Đồng thời, kế toán thực hiện hạch toán giảm số thuế GTGT đầu ra phải nộp tương ứng với phần doanh thu giảm đi (ghi giảm tài khoản thuế GTGT phải nộp).
- Đối với bên mua (bên nhận hàng):
- Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh giảm giá do bên bán lập, bên mua thực hiện hạch toán giảm giá trị hàng hóa, vật tư nhập kho hoặc giảm giá vốn hàng bán nếu hàng hóa đã tiêu thụ trong kỳ.
- Đồng thời, kế toán thực hiện hạch toán giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ tương ứng với phần giá trị hàng hóa được giảm (ghi giảm tài khoản thuế GTGT được khấu trừ).
3. Yêu cầu về hồ sơ, chứng từ hợp lệ
Để đảm bảo tính hợp pháp khi khấu trừ thuế GTGT và tính chi phí hợp lý khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp, các đơn vị cần lưu ý:
- Phải có hợp đồng kinh tế hoặc các phụ lục hợp đồng quy định rõ ràng về chính sách giảm giá, chiết khấu thương mại, điều kiện để khách hàng được hưởng giảm giá.
- Phải có biên bản xác nhận việc giảm giá giữa hai bên mua và bán, ghi rõ lý do giảm giá và số tiền cụ thể.
- Hóa đơn điều chỉnh giảm giá phải được lập đúng quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ, làm cơ sở pháp lý cho việc kê khai điều chỉnh thuế GTGT của cả hai bên.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1984 TCT/DNK | Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2004 |
Kính gửi: Thời báo Kinh tế Việt Nam
Trả lời công văn số 125/CV-TBKT ngày 16/6/2004 của Thời báo Kinh tế Việt Nam về việc nghiệp vụ hạch toán kế toán, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1- Nội dung và phương pháp hạch toán kế toán TK623:
Tài khoản 623 dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây, lắp công trình trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây, lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây, lắp công trình hoàn toàn theo phương pháp bằng máy thì không sử dụng tài khoản 623.
Nội dung và phương pháp hạch toán kế toán tài khoản 623 được hướng dẫn tại Quyết định số 1864/1998/BTC ngày 16/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Ban hành chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp.
2- Theo quy định tại Điểm 5.8, 5.9, Mục IV, Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT thì chỉ trường hợp cơ sở kinh doanh đã xuất bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ và lập hoá đơn do hàng hoá, dịch vụ không đảm bảo chất lượng, quy cách hoặc có sự thay đổi về số lượng hàng hoá bên mua thực nhận phải điều chỉnh (tăng, giảm) giá bán hoặc giá thanh toán thì bên bán và bên mua phải lập biên bản hoặc có thoả thuận bằng văn bản ghi rõ số lượng, quy cách hàng hoá, mức giá tăng (giảm) theo hoá đơn bán hàng (số ký hiệu, ngày, tháng của hoá đơn, thời gian), lý do tăng (giảm) giá, đồng thời bên bán lập hoá đơn để điều chỉnh mức giá được điều chỉnh. Căn cứ vào hoá đơn điều chỉnh giá, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.
Trường hợp cơ sở kinh doanh bán hàng, đã lập hoá đơn, nhưng giảm giá để thu hồi nợ sớm là hình thức khuyến mại cho khách hàng, không được lập hoá đơn điều chỉnh hoá đơn đã lập mà bên mua phải lập hoá đơn nhận tiền khuyến mại (do giảm giá) để bên bán có chứng từ hợp pháp khi tính thuế TNDN.
Tổng cục Thuế trả lời để Thời báo Kinh tế Việt Nam biết./.
|
| KT/ TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 1984 TCT/DNK ngày 30/06/2004 của Tổng cục thuế về việc hạch toán kế toán và tính thuế GTGT khi giảm giá
- Số hiệu: 1984TCT/DNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 30/06/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/06/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
