Tổng quan về Công văn số 1909 TCT/TNCN
Công văn số 1909 TCT/TNCN được ban hành ngày 24/06/2004 bởi Tổng cục Thuế nhằm hướng dẫn và làm rõ các quy định liên quan đến chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (nay là thuế thu nhập cá nhân - TNCN). Văn bản này tập trung giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp và người nộp thuế về việc xác định thu nhập chịu thuế đối với các khoản lợi ích ngoài tiền lương, đặc biệt là khoản tiền thuê nhà do người sử dụng lao động trả thay.
Các nội dung chính sách cốt lõi của văn bản
1. Quy định về khoản tiền thuê nhà trả thay được tính vào thu nhập chịu thuế
- Trường hợp cá nhân được người sử dụng lao động chi trả hộ tiền thuê nhà, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) thì các khoản chi phí này phải được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
- Mức tiền thuê nhà tính vào thu nhập chịu thuế được khống chế tối đa không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh tại đơn vị (chưa bao gồm tiền thuê nhà). Phần chi trả hộ vượt quá mức 15% này sẽ không bị tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
- Quy định này áp dụng thống nhất cho cả đối tượng nộp thuế là người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có phát sinh khoản lợi ích về nhà ở do doanh nghiệp chi trả.
2. Phương pháp xác định thu nhập chịu thuế để tính khống chế 15%
- Công thức xác định phần tiền thuê nhà tính vào thu nhập chịu thuế được thực hiện bằng cách so sánh chi phí thuê nhà thực tế trả thay với mốc 15% của tổng các khoản thu nhập chịu thuế khác (như tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất tiền lương, tiền công).
- Nếu tiền thuê nhà thực tế nhỏ hơn hoặc bằng 15% tổng thu nhập chịu thuế khác: Tính toàn bộ số tiền thuê nhà thực tế vào thu nhập chịu thuế.
- Nếu tiền thuê nhà thực tế lớn hơn 15% tổng thu nhập chịu thuế khác: Chỉ tính phần tương đương 15% tổng thu nhập chịu thuế khác vào thu nhập chịu thuế của cá nhân đó.
3. Trách nhiệm của tổ chức chi trả thu nhập và người nộp thuế
- Các tổ chức, doanh nghiệp chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho người lao động đối với cả phần thu nhập bằng tiền và các khoản lợi ích bằng hiện vật hoặc chi trả thay (bao gồm tiền thuê nhà).
- Hồ sơ, chứng từ chứng minh khoản chi trả hộ tiền thuê nhà phải đầy đủ, hợp pháp (hợp đồng thuê nhà, hóa đơn tài chính, chứng từ thanh toán) để làm cơ sở quyết toán thuế và tính chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp của đơn vị.
Ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của văn bản
Công văn số 1909 TCT/TNCN đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất cách hiểu và áp dụng luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao tại thời điểm ban hành. Việc đưa ra hạn mức khống chế 15% đối với tiền thuê nhà trả thay giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động nước ngoài và chuyên gia làm việc tại Việt Nam, đồng thời tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các doanh nghiệp trong việc quyết toán thuế và hoạch định chi phí nhân sự.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1909 TCT/TNCN | Hà Nội, ngày 24 tháng 6 năm 2004 |
Kính gửi: Cục Tin học và Thống kê tài chính
Trả lời công văn số 3/6/2004 của Cục Tin học và Thống kê tài chính chuyển câu hỏi của bạn đọc về thuế thu nhập cá nhân, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Theo chương trình xây dựng Pháp luật của Quốc hội, dự kiến Luật thuế thu nhập cá nhân sẽ được trình Quốc hội vào năm 2006 và áp dụng vào năm 2007 hoặc năm 2008. Đối tượng nộp thuế được áp dụng cho cả công dân Việt Nam và nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
2. Việc xác định thời gian của người nước ngoài ở tại Việt Nam được căn cứ vào kê khai của cá nhân và hộ chiếu có xác nhận của Cơ quan xuất nhập cảnh. Cá nhân có trách nhiệm kê khai chính xác số ngày có mặt tại Việt Nam, thời gian cư trú tính cho năm đầu tiên được xác định bằng cách cộng tất cả ngày có mặt tại Việt Nam trong phạm vi 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam. Sau năm tính thuế đầu tiên, việc xác định số ngày ở Việt Nam được tính trên cơ sở số ngày trong các lần đến Việt Nam trong năm không phải tính cho 30 ngày liên tục. Ngày đến, ngày đi được tính là 1 ngày.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Tin học và Thống kê tài chính được biết và thông tin tới bạn đọc.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 1909 TCT/TNCN ngày 24/06/2004 của Tổng cục thuế về việc chính sách thuế TNCN
- Số hiệu: 1909 TCT/TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 24/06/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 24/06/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
