Giới thiệu về Công văn số 1662 TCT/PCCS
Công văn số 1662 TCT/PCCS được Tổng cục Thuế ban hành ngày 07/06/2004 nhằm giải quyết và hướng dẫn chi tiết các vướng mắc liên quan đến chính sách thuế đối với dịch vụ ủy thác, bảo hành và bảo trì sản phẩm. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng, đặc biệt là các dịch vụ có yếu tố nước ngoài hoặc nhận ủy thác từ bên thứ ba.
Các nội dung chính sách thuế cốt lõi được hướng dẫn
- Chính sách thuế Giá trị gia tăng (GTGT): Văn bản làm rõ phương pháp xác định thuế GTGT đối với dịch vụ bảo hành, bảo trì sản phẩm. Trường hợp doanh nghiệp trong nước thực hiện dịch vụ bảo hành, bảo trì sản phẩm theo ủy quyền của nhà sản xuất nước ngoài và nhận tiền thanh toán từ nước ngoài, cần xác định rõ điều kiện để áp dụng thuế suất thuế GTGT theo quy định hành chính thuế tại thời điểm hướng dẫn. Đồng thời, hướng dẫn cách lập hóa đơn GTGT đối với linh kiện, phụ tùng thay thế trong quá trình thực hiện bảo hành sản phẩm cho khách hàng.
- Chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Quy định về việc ghi nhận doanh thu và chi phí đối với hoạt động nhận ủy thác bảo hành, bảo trì. Khoản phí dịch vụ nhận được từ hoạt động ủy thác phải được hạch toán vào doanh thu tính thuế TNDN của doanh nghiệp nhận ủy thác. Ngược lại, các chi phí thực tế phát sinh liên quan trực tiếp đến hoạt động bảo hành, bảo trì (như chi phí nhân công, chi phí sử dụng thiết bị, linh kiện thay thế có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp) được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế.
- Nghĩa vụ thuế đối với hoạt động ủy thác dịch vụ: Xác định rõ trách nhiệm kê khai, nộp thuế của bên nhận ủy thác và bên giao ủy thác. Đảm bảo tính minh bạch trong việc luân chuyển chứng từ, hóa đơn giữa các bên liên quan nhằm tránh việc trùng lặp hoặc bỏ sót nghĩa vụ thuế đối với nhà nước.
Ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của văn bản
Công văn số 1662 TCT/PCCS giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất có cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện đúng nghĩa vụ thuế đối với các khoản doanh thu từ dịch vụ bảo hành, bảo trì. Việc phân định rõ ràng giữa doanh thu dịch vụ và giá trị linh kiện thay thế giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình kế toán và hạn chế tối đa các rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế khi có thanh tra, kiểm tra.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1662 TCT/PCCS | Hà Nội, ngày 07 tháng 6 năm 2004 |
Kính gửi: Thời báo kinh tế Việt Nam
Trả lời công văn số 89/CV-TBKT ngày 11 tháng 05 năm 2004 của Thời báo kinh tế Việt Nam về hạch toán, xuất hoá đơn và các khoản thuế phải nộp đối với dịch vị uỷ thác bảo hành, bảo trì sản phẩm cho một hãng thiết bị của nước ngoài, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Tại điểm 1, phần II, Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNDN có quy định: “Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”
Căn cứ hướng dẫn nêu trên thi các khoản tiền thu được từ việc cung cấp dịch vụ uỷ thác bảo hành, bảo trì sản phẩm sẽ được hạch toán vào doanh thu để tính thu nhập chịu thuế. Đồng thời, cơ sở kinh doanh phải kê khai nộp thuế GTGT đối với doanh thu thì hoạt động bảo hành, bảo trì sản phẩm với cơ quan thuế địa phương.
2. Về thuế suất thuế GTGT đối với dịch vụ bảo hành sửa chữa sản phẩm: Tại điểm 3.27 mục II, phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng có quy định: “Dịch vụ sửa chữa, bảo hành áp dụng thuế suất thuế GTGT 10%. Riêng sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải là sản phẩm cơ khí áp dụng thuế suất 5%”.
3. Về hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá, dịch vụ: Căn cứ quy định tại Mục IV, phần B, Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính, thì khi xuất hoá đơn cho đối tác nước ngoài, cơ sở kinh doanh phải sử dụng hoá đơn GTGT nếu thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu từ thuế; hoặc hoá đơn bán hàng nếu thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT.
Tổng cục Thuế trả lời để Thời báo kinh tế được biết để giải đáp thắc mắc của bạn đọc.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
- 1Thông tư 128/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
Công văn số 1662 TCT/PCCS ngày 07/06/2004 của Tổng cục thuế về việc chính sách thuế đối với dịch vụ uỷ thác, bảo hành, bảo trì sảm phẩm
- Số hiệu: 1662TCT/PCCS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/06/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/06/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
