Công văn số 163 TCT/DNK được Tổng cục Thuế ban hành ngày 28/01/2004 nhằm hướng dẫn giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào đối với lượng hàng hóa tồn kho tính đến thời điểm ngày 31/12/2003. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng trong bối cảnh chuyển tiếp áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004.
Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa tồn kho có hóa đơn
Đối với các loại hàng hóa, nguyên liệu, vật tư mua vào trước ngày 01/01/2004 còn tồn kho tính đến ngày 31/12/2003, việc kê khai và khấu trừ thuế GTGT đầu vào được thực hiện theo các nguyên tắc cụ thể sau:
- Hàng hóa tồn kho có hóa đơn GTGT hợp pháp: Doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo số thuế ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng, đảm bảo các điều kiện về hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thuế tại thời điểm mua hàng.
- Hàng hóa tồn kho mua của đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp: Trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa có hóa đơn bán hàng thông thường (không có dòng thuế GTGT riêng biệt), doanh nghiệp không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với lượng hàng hóa tồn kho này.
- Thời hạn kê khai khấu trừ: Doanh nghiệp phải thực hiện kê khai, đối chiếu và quyết toán số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa tồn kho theo đúng thời hạn quy định để làm cơ sở chuyển kỳ sau hoặc thực hiện các thủ tục hoàn thuế theo quy định.
Chính sách đối với hàng hóa nông, lâm, thủy sản mua vào bằng bảng kê tồn kho
Một trong những nội dung cốt lõi của Công văn số 163 TCT/DNK là việc xử lý thuế GTGT đầu vào đối với các mặt hàng nông sản, lâm sản, thủy hải sản chưa qua chế biến mua vào từ người sản xuất trực tiếp không có hóa đơn, chỉ có bảng kê thu mua:
- Bãi bỏ việc khấu trừ thuế theo tỷ lệ %: Kể từ ngày 01/01/2004, Luật Thuế GTGT sửa đổi năm 2003 chính thức bãi bỏ quy định cho phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ phần trăm (%) tính trên giá trị hàng hóa mua vào đối với nông, lâm, thủy sản mua bằng bảng kê.
- Xử lý hàng tồn kho đến ngày 31/12/2003: Đối với lượng hàng hóa nông, lâm, thủy sản mua vào bằng bảng kê trước ngày 01/01/2004 và còn tồn kho tại thời điểm 31/12/2003, khi xuất bán hoặc đưa vào sản xuất kinh doanh từ ngày 01/01/2004 trở đi, doanh nghiệp không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ % đối với lượng hàng tồn kho này.
- Hạch toán chi phí: Giá trị của lượng hàng hóa tồn kho mua bằng bảng kê nêu trên được hạch toán trực tiếp vào giá vốn hàng bán hoặc chi phí sản xuất kinh doanh theo giá trị thực tế mua vào ghi trên bảng kê, không được tách riêng phần thuế GTGT giả định để khấu trừ.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện của doanh nghiệp và cơ quan thuế
Để đảm bảo tính minh bạch, chính xác và ngăn ngừa các hành vi gian lận thuế trong giai đoạn chuyển tiếp chính sách thuế GTGT, Tổng cục Thuế yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc các nội dung sau:
- Đối với doanh nghiệp: Có trách nhiệm thực hiện kiểm kê chính xác số lượng, chủng loại và giá trị hàng hóa tồn kho thực tế tính đến thời điểm khóa sổ ngày 31/12/2003. Doanh nghiệp phải lập bảng kê chi tiết hàng hóa tồn kho phân loại rõ ràng theo nguồn gốc mua vào (có hóa đơn GTGT, hóa đơn thông thường, hoặc bảng kê thu mua) để gửi cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
- Đối với cơ quan thuế địa phương: Tiến hành kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ số liệu báo cáo hàng tồn kho của doanh nghiệp với hệ thống sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ thực tế. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi khai khống hàng tồn kho hoặc hợp thức hóa chứng từ nhằm trục lợi chính sách khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 163 TCT/DNK | Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 2004 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hiệp Hưng |
Trả lời Công văn số 15/CV ngày27/12/2003 của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hiệp Hưng v/v giải đáp chính sách thuế GTGT áp dụng từ ngày 01/01/2004, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ tại tiết b điểm 1 Mục III Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/13/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, quy định:
Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng khi mua hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá nhập khẩu:
* Nguyên tắc kê khai khấu trừ:
- Thuế GTGT đầu vào được kê khai khấu trừ ngay trong tháng (trừ trường hợp có lý do khách quan được kê khai chậm, thời gian tối đa là 3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh) dù hàng hoá đó đã bán hay còn để trong kho.
- Số thuế GTGT được khấu trừ thuế là số thuế ghi trên hoá đơn GTGT đơn vị mua hàng hoá, dịch vụ để phục vụ sản xuất kinh doanh, nghĩa là số thuế GTGT này đơn vị đã nộp ở khâu mua vào.
Vì vậy, đối với hàng hoá công ty mua trước ngày 31/12/2003 có hoá đơn giá trị gia tăng ghi thuế suất 5% công ty chỉ được khấu trừ theo đúng số thuế ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng khi mua hàng hoá.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hiệp Hưng biết./.
|
| KT/TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 163 TCT/DNK ngày 28/01/2004 của Tổng cục thuế về việc thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá tồn 31/12/2003
- Số hiệu: 163TCT/DNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/01/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/01/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
