Giới thiệu về Công văn số 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ
Công văn số 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành nhằm hướng dẫn việc sử dụng sổ dã ngoại và sổ mục kê đất đai qua các thời kỳ trong quá trình đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp tháo gỡ các vướng mắc cho địa phương khi xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất lịch sử.
Vai trò và giá trị pháp lý của Sổ dã ngoại
Sổ dã ngoại (hay còn gọi là sổ mục kê thực địa, sổ dã ngoại bản đồ) là tài liệu được lập trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính. Công văn hướng dẫn cụ thể về việc khai thác tài liệu này:
- Xác định thông tin ban đầu: Sổ dã ngoại ghi nhận thông tin hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm đo đạc, là cơ sở để đối chiếu, kiểm tra khi có sự chênh lệch thông tin giữa các tài liệu đất đai qua các thời kỳ.
- Giá trị chứng minh nguồn gốc: Mặc dù không phải là giấy tờ pháp lý trực tiếp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, sổ dã ngoại là tài liệu kỹ thuật quan trọng hỗ trợ xác minh quá trình sử dụng đất liên tục và ổn định của người dân.
- Hỗ trợ giải quyết tranh chấp: Trong các vụ việc tranh chấp đất đai hoặc xác định ranh giới, sổ dã ngoại cung cấp dữ liệu thực địa lịch sử giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thêm căn cứ giải quyết khách quan.
Giá trị pháp lý và nguyên tắc sử dụng Sổ mục kê đất đai
Sổ mục kê đất đai được lập qua các thời kỳ đo đạc (như theo Chỉ thị 299/TTg, Quyết định 201-CP, hoặc các thông tư hướng dẫn của Tổng cục Địa chính trước đây) có giá trị pháp lý rất cao trong việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận:
- Căn cứ cấp Giấy chứng nhận: Sổ mục kê đất đai được lập trong quá trình thực hiện các chính sách ruộng đất trước đây, nếu có tên người sử dụng đất và phù hợp với bản đồ địa chính hoặc tài liệu đo đạc hợp pháp, được coi là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất để xem xét cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật đất đai.
- Tính thống nhất của dữ liệu: Khi sử dụng sổ mục kê, cơ quan đăng ký đất đai phải đối chiếu chặt chẽ với bản đồ địa chính tương ứng và các hồ sơ địa chính khác để đảm bảo tính thống nhất, tránh việc chồng chéo hoặc sai lệch diện tích, chủ sử dụng.
- Xử lý sai lệch thông tin: Trường hợp có sự khác biệt giữa thông tin trên sổ mục kê và thực tế sử dụng hoặc các giấy tờ khác, cơ quan chức năng phải tiến hành thanh tra, kiểm tra thực địa và lấy ý kiến của cộng đồng dân cư để xác định thông tin chính xác nhất.
Hướng dẫn tổ chức thực hiện tại các địa phương
Để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước và quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu các địa phương thực hiện các nội dung sau:
- Rà soát và hệ thống hóa tài liệu: Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo Văn phòng Đăng ký đất đai rà soát, phân loại và lưu trữ khoa học các loại sổ dã ngoại, sổ mục kê đất đai hiện có.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin: Thực hiện số hóa, quét (scan) và cập nhật các tài liệu giấy này vào cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia để phục vụ tra cứu nhanh chóng, chính xác và bảo quản lâu dài.
- Thống nhất áp dụng pháp luật: Các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính về đất đai tại địa phương phải áp dụng thống nhất các hướng dẫn tại Công văn này, tránh việc tự ý đặt ra các thủ tục hoặc từ chối sử dụng các tài liệu lịch sử hợp pháp gây phiền hà cho người dân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ | Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2007 |
CÔNG VĂN
VỀ VIỆC “SỬ DỤNG SỔ DÃ NGOẠI VÀ SỔ MỤC KÊ ĐẤT ĐAI”
1. Sổ dã ngoại là loại sổ lập theo hướng dẫn của Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) trong quá trình thực hiện Chỉ thị 299-TTg ngày 10-11-1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước. Sổ này được lập trong quá trình đo đạc lập bản đồ giải thửa hoặc bản đồ địa chính (trước khi tổ chức đăng ký quyền sử dụng đất) để thể hiện các thông tin điều tra, đo đạc ban đầu về hiện trạng sử dụng đất như số liệu thửa đất, tên người đang sử dụng đất, diện tích, loại đất. Việc lập sổ này để phục vụ cho việc tổ chức kê khai đăng ký quyền sử dụng đất mà không phải là sổ ghi kết quả đăng ký quyền sử dụng đất. Do đó sổ này không được coi là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai.
2. Sổ mục kê đất trước đây (trước Luật Đất đai năm 2003) lập theo quy định tại các văn bản gồm: Quyết định số 56-ĐKTK ngày 5-11-1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành bản quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước (dưới đây gọi là Quyết định số 56-ĐKTK); Quyết định số 499/QĐ-ĐC ngày 27-7-1995 của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) ban hành quy định mẫu sổ địa chính, sổ mục kê đất, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ theo dõi biến động đất đai (dưới đây gọi là Quyết định số 499/QĐ-ĐC); Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30-11-2001 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dưới đây gọi là Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC). Sổ mục kê đất được lập để phục vụ cho Nhà nước nắm đầy đủ ruộng đất và thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai theo quy định của pháp luật đất đai; do đó Sổ mục kê đất phải thể hiện toàn bộ các thửa đất (gồm cả thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dưới đây gọi là giấy chứng nhận) và thửa chưa được cấp giấy chứng nhận), các công trình thủy lợi và sông ngòi, kênh rạch suối trong phạm vi địa giới hành chính từng xã, phường, thị trấn. Những thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận thì thông tin của thửa thể hiện trên Sổ mục kê đất thống nhất với thông tin trên giấy chứng nhận, những thửa đất chưa cấp giấy chứng nhận thì thông tin của thửa thể hiện theo kết quả điều tra, đo đạc hiện trạng đang sử dụng đất mà chưa có giá trị pháp lý về quyền sử dụng đất. Vì vậy, Sổ mục kê đất cũng không được coi là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật đất đai.
Chỉ có Sổ đăng ký ruộng đất (lập theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK) và Sổ địa chính (được lập theo quy định tại Quyết định số 499 QĐ-ĐC và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC) mới được coi là loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai) vì các Sổ này chỉ ghi đối với những người sử dụng đất đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã thẩm tra, xác nhận là sử dụng hợp pháp, đồng thời được ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt công nhận (theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK) hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận (theo quy định tại quyết định số 499/QĐ-ĐC và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC).
Công văn số 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ về việc sử dụng sổ dã ngoại và sổ mục kê đất đai do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- Số hiệu: 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/04/2007
- Nơi ban hành: Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/04/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
