Giới thiệu về Công văn số 1260/LĐTBXH-LĐVL
Công văn số 1260/LĐTBXH-LĐVL được ban hành ngày 23/04/2004 bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Đây là văn bản hành chính mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ, nhằm giải đáp các vướng mắc pháp lý và hướng dẫn thực thi các quy định của pháp luật lao động cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người lao động tại thời điểm ban hành.
Nội dung khái quát phần mở đầu và các điều khoản đầu (Điều 1 - Điều 4)
Dựa trên thông tin trích xuất ban đầu, nội dung trọng tâm của phần này tập trung vào các vấn đề sau:
- Phần mở đầu: Xác định lý do, bối cảnh ban hành công văn nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc thực tế trong quá trình áp dụng Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến quan hệ lao động.
- Nội dung từ Điều 1 đến Điều 4: Tập trung giải thích và hướng dẫn các nguyên tắc cốt lõi ban đầu trong việc áp dụng các quy định pháp luật về lao động, việc làm, hợp đồng lao động hoặc các chế độ chính sách cơ bản dành cho người lao động theo thẩm quyền của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Lưu ý: Do giới hạn về dữ liệu trích xuất từ văn bản gốc, các nội dung chi tiết cụ thể của từng điều khoản từ Điều 1 đến Điều 4 chưa được thể hiện đầy đủ trong tài liệu cung cấp. Để áp dụng chính xác cho từng trường hợp cụ thể, người dùng cần đối chiếu thêm với văn bản gốc của Công văn số 1260/LĐTBXH-LĐVL.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1260/LĐTBXH-LĐVL | Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2004 |
Kính gửi: Ban Quản lý các Khu Công nghiệp Khánh Hoà
Trả lời công văn số 113/KCN ngày 09/4/2004 của quý Ban về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Cụm từ “những ngày người lao động không được làm việc” quy định tại Khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Lao động được hiểu là khoảng thời gian người lao động không được làm việc kể từ ngày bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đồng đến ngày được nhận trở lại làm việc (trừ những ngày nghỉ hàng tuần không có lương). Ví dụ Ông A bị Công ty B đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật từ ngày 15/3/2004 và đến ngày 20/4/2004 Công ty B đã nhận Ông A trở lại làm việc. Khoảng thời gian này có tất cả 35 ngày, trong đó:
- Trường hợp Công ty B áp dụng chế độ làm việc 6 ngày/tuần, thì Ông A có 31 ngày không được làm việc (có 5 ngày là ngày nghỉ hàng tuần);
- Trường hợp Công ty B áp dụng chế độ làm việc 5 ngày/tuần, thì Ông A có 26 ngày không được làm việc (có 10 ngày là ngày nghỉ hàng tuần).
2. Khoản tiền bồi thường thêm quy định tại đoạn khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Lao động là khoản tiền phụ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên, nên không có hướng dẫn về cách tính khoản tiền này./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |
Công văn số 1260/LĐTBXH-LĐVL ngày 23/04/2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc giải đáp pháp luật lao động
- Số hiệu: 1260/LĐTBXH-LĐVL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 23/04/2004
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Nguyễn Đại Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/04/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
