Giới thiệu về Công văn số 118/LĐTBXH-TL
Công văn số 118/LĐTBXH-TL được ban hành ngày 12/01/2004 bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc liên quan đến việc thực hiện chế độ làm thêm giờ cho người lao động. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động áp dụng đúng các quy định của pháp luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và tiền lương làm thêm giờ.
Các nội dung trọng tâm về chế độ làm thêm giờ
Công văn tập trung làm rõ các nguyên tắc, giới hạn và phương pháp tính lương khi người lao động thực hiện làm thêm giờ, cụ thể như sau:
- Nguyên tắc thỏa thuận làm thêm giờ: Việc tổ chức làm thêm giờ phải được sự đồng ý của người lao động, tuân thủ nguyên tắc tự nguyện và không được ép buộc. Người sử dụng lao động phải thỏa thuận rõ ràng với người lao động về thời gian, địa điểm và các chế độ đãi ngộ kèm theo.
- Giới hạn số giờ làm thêm: Số giờ làm thêm của người lao động phải bảo đảm không vượt quá các hạn mức quy định của pháp luật. Cụ thể, số giờ làm thêm trong ngày không quá 4 giờ; tổng số giờ làm thêm trong một năm không quá 200 giờ, trừ một số trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép làm thêm đến 300 giờ nhưng phải có sự đồng ý của cơ quan quản lý nhà nước về lao động có thẩm quyền.
- Phương pháp tính tiền lương làm thêm giờ: Tiền lương làm thêm giờ được tính dựa trên đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của công việc đang làm. Mức thanh toán được xác định theo các mốc cụ thể: làm thêm vào ngày thường ít nhất bằng 150%; làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần ít nhất bằng 200%; làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương ít nhất bằng 300%.
- Chế độ nghỉ bù: Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã làm thêm. Trường hợp không bố trí nghỉ bù đủ thì phải thanh toán tiền lương làm thêm giờ theo đúng quy định pháp luật.
Ý nghĩa và phạm vi áp dụng
Công văn số 118/LĐTBXH-TL đóng vai trò là cơ sở pháp lý để các cơ quan thanh tra lao động, tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động giám sát việc thực thi quyền lợi của người lao động. Việc tuân thủ nghiêm túc các hướng dẫn tại công văn này giúp bảo vệ sức khỏe, tái tạo sức lao động của người lao động, đồng thời hạn chế tối đa các tranh chấp lao động tập thể liên quan đến thời giờ làm việc và tiền lương.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 118/LĐTBXH-TL | Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 2004 |
| Kính gửi: | Công ty Tư vấn đầu tư và dịch vụ văn phòng YKVN |
Trả lời công văn của Công ty Tư vấn Đầu tư và Dịch vụ Văn phòng YKVN về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
Ngày 30 tháng 5 năm 2003 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ về tiền lương đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và co quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam không quy định đối tượng không được hưởng tiền lương làm thêm giờ là do trong Bộ luật Lao động không quy định những đối tượng không được làm thêm giờ.
Để có căn cứ trả lương làm thêm giờ đối với người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với các loại lao động đang sử dụng trong doanh nghiệp (gồm: viên chức quản lý doanh nghiệp; viên chức chuyên môn, nghiệp vụ và công nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh) theo quy định tại Nghị định số 109/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 195/CP và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi và Thông tư và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định 109/2002/NĐ-CP nói trên, nhưng phải có ý kiến tham gia của Ban chấp hành công đoàn hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời cùng cấp và ghi trong thoả ước lao động tập thể. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu làm thêm giờ theo yêu cầu của công việc đòi hỏi, thì người sử dụng lao động phải thoả thuận với người lao động và được người lao động đồng ý làm thêm giờ ngoài chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do doanh nghiệp quy định. Người lao động làm thêm giờ được trả lương theo quy định tại Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH nói trên.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để Công ty được biết.
|
| T/L BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |
- 1Thông tư 14/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 114/2002/NĐ-CP về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
- 2Nghị định 109/2002/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 195/CP năm 1994 Hướng dẫn Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Công văn số 118/LĐTBXH-TL ngày 12/01/2004 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội về việc chế độ làm thêm giờ
- Số hiệu: 118/LĐTBXH-TL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 12/01/2004
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Phạm Minh Huân
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/01/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
