Công văn số 1132/LĐTBXH-CSLĐVL được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành ngày 14/04/2003 nhằm giải quyết và hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, giúp các doanh nghiệp và cơ quan quản lý lao động thực hiện thống nhất các quy định của Bộ luật Lao động về chế độ trợ cấp thôi việc, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế kinh tế và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước thời kỳ đó.
Trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc đối với thời gian làm việc ở các khu vực khác nhau
Văn bản tập trung làm rõ nguyên tắc xác định trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động có quá trình công tác trải qua nhiều doanh nghiệp, cơ quan thuộc các thành phần kinh tế khác nhau:
- Phân định trách nhiệm chi trả: Người sử dụng lao động hiện tại chỉ có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đối với khoảng thời gian người lao động thực tế làm việc tại doanh nghiệp, tổ chức của mình.
- Xử lý thời gian làm việc ở khu vực nhà nước: Đối với thời gian người lao động làm việc ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước trước khi chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian này thuộc về cơ quan, đơn vị cũ nơi người lao động đã làm việc (nếu khi chuyển công tác người lao động chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp một lần).
- Nguyên tắc phối hợp: Các doanh nghiệp và cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp, xác minh quá trình đóng bảo hiểm xã hội, hồ sơ lý lịch lao động để làm căn cứ tính toán chính xác thời gian làm việc được hưởng trợ cấp tại từng đơn vị.
Căn cứ và phương pháp tính toán trợ cấp thôi việc
Công văn hướng dẫn cụ thể về cách thức tính toán khoản trợ cấp thôi việc nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động theo đúng quy định pháp luật:
- Thời gian tính trợ cấp thôi việc: Là tổng thời gian làm việc thực tế của người lao động tại doanh nghiệp, được tính theo năm (đủ 12 tháng). Trường hợp có tháng lẻ thì được làm tròn theo nguyên tắc: dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm làm việc, từ đủ 06 tháng trở lên được tính tròn là 01 năm làm việc.
- Mức hưởng trợ cấp: Mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có) theo quy định của pháp luật lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp: Là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bao gồm lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).
Tổ chức thực hiện và giải quyết tranh chấp lao động
Để đảm bảo tính thực thi của văn bản, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đưa ra các chỉ dẫn về mặt thủ tục và giải quyết các phát sinh thực tế:
- Nghĩa vụ của người sử dụng lao động: Khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, người sử dụng lao động phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn các khoản trợ cấp thôi việc trong thời hạn quy định (thông thường là trong vòng 07 ngày, trường hợp đặc biệt không quá 30 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng).
- Giải quyết vướng mắc tại địa phương: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra và hướng dẫn các doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện nghiêm túc hướng dẫn tại Công văn này. Mọi tranh chấp phát sinh về trợ cấp thôi việc sẽ được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân quy định tại Bộ luật Lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1132/LĐTBXH-CSLĐVL | Hà Nội, ngày 14 tháng 4 năm 2003 |
Kính gửi: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
Trả lời công văn số 234/CV-LĐTL ngày 20/02/2003 của Quý Tổng công ty hỏi về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động-Thương binh và xã hội có ý kiến như sau:
1/ Về tiền lương để tính trợ cấp thôi việc:
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc đối với người lao động làm việc tại xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro nên chia làm 2 giai đoạn:
- Thời gian từ ngày 31/12/1990 trở về trước: Lấy tiền lương bình quân 6 tháng liền kề của người lao động trước thời điểm 31/12/1990 quy đổi theo nghị định số 26/CP ngày 25/3/1993 tại thời điểm 01/4/1993.
- Thời gian sau 31/12/1990: Lấy tiền lương bình quân 6 tháng liền kề của người lao động trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
2. Về trợ cấp thôi việc đối với người lao động có thời gian làm việc tại xí nghiệp Liên doanh Vietsopetro:
Về nguyên tắc, khi người lao động trước đây đã có thời gian làm việc tại Vietsopetro mà chấm dứt hợp đồng lao động tại công ty Dịch vụ-Du lịch dầu khí (Petrosetco), thì Vietsopetro phải có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đối với thời gian làm việc tại đơn vị này.
Trường hợp đến năm 2010 Vietsopetro chấm dứt hoạt động, thì người sử dụng lao động kế tiếp phải có trách nhiệm giải quyết trợ cấp thôi việc cho người lao động có thời gian làm việc tại Vietsopetro và nguồn kinh phí chi trả được trừ vào giá trị tài sản của Vietsopetro khi chuyển nhượng./.
|
| TL BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |
Công văn số 1132/LĐTBXH-CSLĐVL ngày 14/04/2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc trợ cấp thôi việc
- Số hiệu: 1132/LĐTBXH-CSLĐVL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 14/04/2003
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Nguyễn Đại Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/04/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
