Giới thiệu về Công văn số 10286 TC/TCT
Công văn số 10286 TC/TCT được Bộ Tài chính ban hành ngày 20/09/2002 nhằm hướng dẫn các cơ quan thuế và doanh nghiệp thực hiện việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) bổ sung. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng trong bối cảnh pháp luật thuế TNDN thời kỳ đó (áp dụng Luật Thuế TNDN năm 1997) vẫn duy trì chính sách thu thuế TNDN bổ sung đối với các doanh nghiệp có thu nhập cao nhờ lợi thế khách quan.
Các nội dung cốt lõi về việc tính thuế TNDN bổ sung
Dựa trên các quy định pháp luật thuế tại thời điểm ban hành, Công văn số 10286 TC/TCT tập trung làm rõ các nguyên tắc và phương pháp xác định thuế TNDN bổ sung như sau:
- Đối tượng chịu thuế TNDN bổ sung: Áp dụng đối với các cơ sở kinh doanh trong nước có thu nhập chịu thuế cao do có các lợi thế khách quan mang lại (như vị trí địa lý thuận lợi, tính chất độc quyền trong kinh doanh, hoặc các điều kiện khách quan đặc biệt khác) sau khi đã nộp thuế TNDN theo thuế suất phổ thông.
- Căn cứ và phương pháp tính thuế: Thuế TNDN bổ sung được tính trên phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi thuế TNDN tính theo thuế suất phổ thông và phần thu nhập định mức được giữ lại theo quy định của pháp luật.
- Thuế suất áp dụng: Mức thuế suất thuế TNDN bổ sung tại thời điểm này được quy định thống nhất là 25% đối với phần thu nhập vượt mức quy định.
- Đối tượng không thuộc diện áp dụng: Quy định về thuế TNDN bổ sung không áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi khuyến khích đầu tư nhằm bảo đảm tính nhất quán trong chính sách thu hút vốn đầu tư.
Ý nghĩa và hiệu lực thực tế của văn bản
Công văn số 10286 TC/TCT đã kịp thời tháo gỡ các vướng mắc cho cơ quan thuế địa phương và các doanh nghiệp trong việc kê khai, quyết toán thuế TNDN. Việc điều tiết thuế bổ sung giúp đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ tài chính đối với các doanh nghiệp có lợi thế siêu ngạch.
Lưu ý pháp lý: Quy định về thuế TNDN bổ sung đã chính thức được bãi bỏ khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 có hiệu lực thi hành, nhằm đơn giản hóa hệ thống thuế và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10286 TC/TCT
| Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2002 |
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thời gian vừa qua, Bộ Tài chính nhận được kiến nghị của nhiều doanh nghiệp về việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung đối với thu nhập được chia từ hoạt động liên doanh liên kết. Vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
1. Căn cứ vào Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước và tình hình thực tế của các doanh nghiệp thì: thu nhập không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung trong các trường hợp sau:
- Thu nhập nhận được từ việc góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần, góp vốn liên kết để lại tiếp tục tái đầu tư tại doanh nghiệp nhận vốn góp.
- Thu nhập nhận được từ cổ tức, từ hoạt động góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần hoặc liên kết liên doanh, hoặc để lại thu nhập sau thuế mà doanh nghiệp để lại tiếp tục tái đầu tư tại bản thân doanh nghiệp.
Để có căn cứ xác định thu nhập được chia không phải tính vào thu nhập để tính thuế thu nhập bổ sung, thì doanh nghiệp phải có xác nhận của cơ quan thuế địa phương quản lý doanh nghiệp nhận vốn góp về số tiền được chia để lại tiếp tục tái đầu tư tại doanh nghiệp nhận vốn góp.
Các khoản thu nhập kể trên dùng vào tái đầu tư với thời gian tối thiểu là 3 năm, phải có quyết định của Chủ tịch hội đồng quản trị đối với doanh nghiệp có hội đồng quản trị hoặc giám đốc doanh nghiệp đối với doanh nghiệp không có hội đồng quản trị và dự án đầu tư có sử dụng nguồn vốn này.
2. Phương pháp kế toán
- Trường hợp nếu doanh nghiệp góp vốn để lại tiếp tục tái đầu tư tại doanh nghiệp nhận góp vốn thì ngoài việc tăng TK 222 - Góp vốn liên doanh, còn phải ghi tăng các tài khoản: 211 - Đầu tư dài hạn khác & TK 128 - Đầu tư ngắn hạn khác (liên quan đến vốn góp liên kết, đầu tư khác). Ngoài ra còn phải quy định thêm lợi nhuận để lại tái đầu tư không chia phải ghi tăng TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh (chi tiết vốn bổ sung) (ghi nợ TK 421 - Lợi nhuận chưa phân phối, ghi có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh).
- Trường hợp nếu doanh nghiệp góp vốn để lại tiếp tục tái đầu tư tại bản thân doanh nghiệp, lợi nhuận để lại tái đầu tư không chia phải ghi tăng TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh (chi tiết vốn bổ sung) (ghi nợ TK 421 - Lợi nhuận chưa phân phối, ghi có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh).
Công văn này thay thế công văn số 2178 TC/TCT ngày 14/3/2002 của Bộ Tài chính.
Bộ Tài chính thông báo để Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương biết và tổ chức thực hiện./.
|
| KT/BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH |
|
Công văn số 10286 TC/TCT ngày 20/09/2002 của Bộ Tài chính về việc tính thuế TNDN bổ sung
- Số hiệu: 10286TC/TCT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/09/2002
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Trương Chí Trung
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/09/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
