Công văn hướng dẫn xét xử tội làm tiền giả (sau đây gọi tắt là Văn bản hướng dẫn) được ban hành nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử, thống nhất áp dụng pháp luật đối với tội phạm về tiền giả, ngân phiếu giả và công trái giả. Văn bản tập trung hướng dẫn chi tiết các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt và các tình tiết liên quan từ Điều 1 đến Điều 4 của quy định hướng dẫn.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự liên quan đến hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả. Đối tượng áp dụng trực tiếp là các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật hình sự liên quan đến tiền giả.
Nội dung cốt lõi của văn bản hướng dẫn (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Xác định hành vi phạm tội và các khái niệm cơ bản (Điều 1)
- Hành vi "làm tiền giả" được xác định là hành vi vẽ, in, chụp ảnh, photocopy hoặc bằng các công nghệ, phương pháp khác để tạo ra đối tượng giống như tiền thật (bao gồm cả tiền Việt Nam và ngoại tệ), ngân phiếu thật, công trái thật nhằm mục đích lừa dối, đưa vào lưu thông như tiền thật.
- Tội phạm hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện hành vi tạo ra tiền giả, không phụ thuộc vào việc tiền giả đó đã được đưa vào lưu thông hay chưa hoặc chất lượng tiền giả giống tiền thật ở mức độ nào.
- Đối với ngân phiếu giả và công trái giả, cách thức xác định hành vi làm giả cũng được áp dụng tương tự như đối với tiền giả để đảm bảo tính thống nhất trong xử lý hình sự.
2. Phân định các hành vi tàng trữ, vận chuyển và lưu hành tiền giả (Điều 2)
- Hành vi "tàng trữ tiền giả" là việc cất giữ, lưu trữ tiền giả dưới bất kỳ hình thức nào (như cất trong người, nhà ở, nơi làm việc, nơi gửi đồ...) mà không nhằm mục đích lưu hành ngay lập tức nhưng có ý định sử dụng hoặc xử lý sau đó.
- Hành vi "vận chuyển tiền giả" là hành vi dịch chuyển tiền giả từ địa điểm này sang địa điểm khác bằng bất kỳ phương tiện nào (đường bộ, đường thủy, đường hàng không, bưu điện...) cho bản thân hoặc cho người khác mà không nhằm mục đích mua bán, trao đổi trực tiếp tại thời điểm vận chuyển.
- Hành vi "lưu hành tiền giả" là hành vi đưa tiền giả vào sử dụng trong giao dịch dân sự, mua bán, trao đổi, thanh toán, tặng cho, thế chấp... nhằm biến tiền giả thành công cụ thanh toán như tiền thật để thu lợi bất chính.
3. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự và trị giá tang vật (Điều 3)
- Trách nhiệm hình sự của người phạm tội được xác định căn cứ vào tổng trị giá mệnh giá của số tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả mà họ đã làm, tàng trữ, vận chuyển hoặc lưu hành.
- Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều hành vi khác nhau (vừa làm, vừa tàng trữ, vận chuyển, lưu hành) đối với cùng một lượng tiền giả thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh đầy đủ bao gồm các hành vi đó, nhưng lượng tiền giả chỉ được tính một lần để xác định khung hình phạt, tránh việc tính trùng hai lần gây bất lợi cho bị cáo.
- Đối với ngoại tệ giả, trị giá tang vật được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội để làm căn cứ định khung hình phạt chính xác.
4. Xử lý các trường hợp đồng phạm và chuẩn bị phạm tội (Điều 4)
- Trường hợp có sự câu kết, phân công trách nhiệm giữa các đối tượng (người chủ mưu, người thực hành, người giúp sức, người xúi giục) thì vụ án được xử lý theo quy định về đồng phạm. Mức độ hình phạt của từng bị cáo phải tương xứng với tính chất và vai trò của họ trong vụ án đồng phạm.
- Hành vi chuẩn bị phạm tội (như chuẩn bị máy móc, thiết bị, phôi tiền, hóa chất, phương tiện để làm tiền giả hoặc tìm kiếm nguồn tiêu thụ tiền giả) cũng bị xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật Hình sự nhằm ngăn chặn hiểm họa cho nền tài chính quốc gia từ sớm.
- Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự phải được xem xét khách quan, toàn diện dựa trên nhân thân của người phạm tội và tính chất nguy hiểm của hành vi.
Hiệu lực thi hành
Văn bản hướng dẫn này có hiệu lực áp dụng thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp kể từ ngày ban hành. Các hướng dẫn trước đây của cơ quan có thẩm quyền trái với văn bản này đều bị bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 40-NCPL | Hà Nội, ngày 06 tháng 5 năm 1991 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 40-NCPL NGÀY 6 THÁNG 5 NĂM 1991 HƯỚNG DẪN VIỆC XÉT XỬ TỘI LÀM TIỀN GIẢ
Trong thời gian vừa qua đã xảy ra nhiều vụ làm tiền Việt Nam giả, lưu hành tiền Việt Nam giả, trong đó có những vụ có tính chất đặc biệt nghiêm trọng cho nền kinh tế của đất nước. Để góp phần đấu tranh có hiệu quả chống loại tội phạm này, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án các cấp một số điểm như sau:
1. Các trường hợp sau đây bị coi là "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng" theo khoản 2 Điều 98 Bộ luật Hình sự:
- Làm tiền giả bằng phương pháp công nghệ (in máy);
- Làm tiền giả với số lượng từ một triệu đồng trở lên;
- Phạm tội có tổ chức, có màng lưới làm giả, lưu hành tiền giả ở nhiều địa phương khác nhau.
2. Đối với những người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì tuỳ trường hợp cụ thể cần trừng phạt thật nghiêm khắc với mức án cao của khung hình phạt theo khoản 2 Điều 98 Bộ luật Hình sự (20 năm tù, tù chung thân, tử hình):
- Làm hàng trăm triệu đồng tiền giả;
- Đã lưu hành tiền giả với số lượng từ năm mươi triệu đồng trở lên.
3. Đối với người làm tiền giả đã lưu hành tiền giả do mình làm ra thì kết án với tội danh là "làm tiền giả, lưu hành tiền giả" và chỉ quyết định đối với kẻ phạm tội một hình phạt về tội phạm này.
4. Đối với người bóc tách một vài tờ tiền thật để nghiên cứu khi làm tiền giả mà đã bị truy tố về tội "phá huỷ tiền tệ" thì Toà án cũng kết án họ về tội phạm đó. Nhưng nếu Viện Kiểm sát không truy tố hành vi này về tội "phá huỷ tiền tệ" mà chỉ coi là tình tiết của việc làm tiền giả, thì Toà án không trả hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát để yêu cầu truy tố thêm về tội "phá huỷ tiền tệ" mà chỉ cần coi hành vi này là tình tiết nghiêm trọng của việc làm tiền giả.
5. Làm tiền nước ngoài để lưu hành ở Việt Nam, lưu hành tiền nước ngoài giả ở Việt Nam cũng bị xử lý như làm giả tiền Việt Nam, lưu hành tiền Việt Nam giả.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
Công văn hướng dẫn xét xử tội làm tiền giả
- Số hiệu: 40-NCPL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 06/05/1991
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Trịnh Hồng Dương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/05/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
