Giới thiệu chung về Công văn 991/TCT-TNCN
Công văn 991/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN), tập trung chủ yếu vào công tác quyết toán thuế và các trường hợp ủy quyền quyết toán thuế TNCN. Văn bản này giúp tháo gỡ các vướng mắc thực tế cho doanh nghiệp và người lao động, đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thuế được thống nhất và đúng quy định pháp luật.
Các nội dung chính sách cốt lõi tại Công văn 991/TCT-TNCN
- Quy định về việc ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân
Công văn hướng dẫn chi tiết các trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công được phép ủy quyền quyết toán thuế TNCN qua tổ chức trả thu nhập, bao gồm:
- Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức chi trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm ủy quyền quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm.
- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập vãng lai này.
- Trường hợp tổ chức trả thu nhập thực hiện tổ chức lại doanh nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi) và người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ sang tổ chức mới, người lao động được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới.
- Hướng dẫn quyết toán thuế đối với trường hợp điều chuyển nội bộ
Đối với người lao động được điều chuyển công tác giữa các tổ chức trong cùng một hệ thống (như tập đoàn, tổng công ty, công ty mẹ - con, các chi nhánh):
- Nếu người lao động chuyển sang tổ chức mới do yêu cầu điều chuyển nội bộ, tổ chức mới có trách nhiệm thu thập chứng từ khấu trừ thuế TNCN của tổ chức cũ (nếu có) hoặc căn cứ vào dữ liệu thu nhập để thực hiện quyết toán thuế thay cho người lao động.
- Tổ chức mới thực hiện quyết toán thuế TNCN đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả. Khi quyết toán, tổ chức mới phải tổng hợp toàn bộ thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm của người lao động tại cả hai nơi để tính toán số thuế phải nộp hoặc số thuế được hoàn.
- Trách nhiệm của tổ chức chi trả thu nhập khi nhận ủy quyền
Tổ chức chi trả thu nhập nhận ủy quyền quyết toán thuế của cá nhân có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sau:
- Tiếp nhận tờ khai ủy quyền quyết toán thuế TNCN của người lao động theo mẫu quy định của Bộ Tài chính.
- Tính toán chính xác số thuế TNCN phải nộp, số thuế đã khấu trừ, số thuế nộp thừa hoặc nộp thiếu của từng cá nhân ủy quyền.
- Thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu của các cá nhân. Sau khi bù trừ, tổ chức chi trả thu nhập lập hồ sơ quyết toán thuế TNCN gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các thông tin, số liệu khai trình trên tờ khai quyết toán thuế TNCN đã nhận ủy quyền.
- Các trường hợp không được ủy quyền quyết toán thuế TNCN
Công văn cũng lưu ý một số đối tượng không thuộc diện được ủy quyền quyết toán thuế mà phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế:
- Cá nhân đảm bảo điều kiện được ủy quyền nhưng đã được tổ chức cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN (trừ trường hợp chứng từ khấu trừ thuế đã bị thu hồi và hủy bỏ).
- Cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng.
- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại nhiều nơi nhưng không đáp ứng đủ điều kiện về thu nhập vãng lai theo quy định.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn 991/TCT-TNCN đóng vai trò là cơ sở pháp lý rõ ràng cho các cơ quan thuế địa phương và các doanh nghiệp trong việc thực hiện quyết toán thuế TNCN. Việc làm rõ các điều kiện ủy quyền quyết toán thuế giúp giảm thiểu thủ tục hành chính cho người lao động, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý thuế của cơ quan nhà nước, tránh thất thu thuế và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người nộp thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 991/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 28 tháng 03 năm 2011 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH một thành viên tư vấn thuế Deloitte |
Trả lời công văn số 03/DVT-HN ngày 01/3/2011 của Công ty TNHH một thành viên tư vấn thuế Deloitte hỏi về việc quyết toán thuế GTGT, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về việc quyết toán thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài thuộc đối tượng cư trú tại Việt Nam:
Theo hướng dẫn tại khoản 1.1 mục VI, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân thì:
“Kỳ tính thuế theo năm: áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì năm tính thuế được tính theo năm dương lịch”
Theo hướng dẫn tại khoản 2.9, mục II phần D Thông tư số 84/2008/TT-BTC nêu trên thì:
“Khai thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài: Cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh tại nước ngoài phải khai và nộp thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân.
Trường hợp thu nhập phát sinh tại nước ngoài đã tính và nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân của nước ngoài thì được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài. Số thuế được trừ không vượt quá số thuế phải nộp tính theo biểu thuế của Việt Nam tính phân bổ cho phần thu nhập phát sinh tại nước ngoài. Tỷ lệ phân bổ được xác định bằng tỷ lệ giữa số thu nhập phát sinh tại nước ngoài và tổng thu nhập chịu thuế”.
Theo hướng dẫn nêu trên trường hợp cá nhân là người nước ngoài thuộc đối tượng cư trú tại Việt Nam năm tính thuế được tính theo năm dương lịch. Kỳ quyết toán thuế cá nhân phải kê khai toàn bộ thu nhập kể cả các khoản thu nhập ở nước ngoài.
Ví dụ: Ông X là người nước ngoài được cử sang làm việc ở Việt Nam từ 15/3/2010 đến 15/3/2013. Trong năm dương lịch 2010 ông X được xác định là đối tượng cư trú tại Việt Nam thì năm tính thuế đầu tiên của ông X là từ 1/1/2010 đến 31/12/2010. Các năm tính thuế TNCN tiếp theo được tính theo năm dương lịch.
2. Xác định số tháng chịu thuế thu nhập cá nhân:
Việc tính số tháng chịu thuế thu nhập cá nhân khi quyết toán thuế được thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 486/TCT-TNCN ngày 11/2/2011 của Tổng cục Thuế hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2010. Ví dụ: Ông Y đến Việt Nam làm việc từ 1/1/2010 và rời khỏi Việt Nam ngày 15/11/2010 thì tổng số tháng tính thuế thu nhập cá nhân khi quyết toán là 11 tháng.
3. Tổng cục Thuế đã có công văn số 486/TCT-TNCN ngày 11/2/2011 hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2010 trong đó đã hướng dẫn rõ việc quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.
Tổng cục Thuế thông báo để Công ty TNHH một thành viên tư vấn thuế Deloitte được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007
- 2Thông tư 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 486/TCT-TNCN hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2010 do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 991/TCT-TNCN về chính sách thuế thu nhập cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 991/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/03/2011
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/03/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
