Tổng quan về Công văn 8214/BTP-HCTP năm 2012
Công văn 8214/BTP-HCTP do Bộ Tư pháp ban hành năm 2012 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và chứng thực tại các địa phương. Văn bản này đưa ra các chỉ dẫn cụ thể, thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật đối với các cơ quan tư pháp địa phương, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Các nội dung hướng dẫn trọng tâm về nghiệp vụ hộ tịch
Công văn tập trung giải quyết nhiều vướng mắc liên quan đến thủ tục đăng ký hộ tịch, đặc biệt là các trường hợp có yếu tố nước ngoài hoặc hồ sơ giấy tờ không rõ ràng:
- Đăng ký khai sinh và xác định quốc tịch: Hướng dẫn chi tiết về việc xác định thẩm quyền và thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là người nước ngoài. Giải quyết các trường hợp đăng ký khai sinh quá hạn, đăng ký lại khai sinh khi sổ hộ tịch gốc bị mất hoặc hư hỏng.
- Đăng ký kết hôn và nhận cha, mẹ, con: Làm rõ các điều kiện về hồ sơ, giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài khi đăng ký kết hôn tại Việt Nam. Hướng dẫn thủ tục nhận cha, mẹ, con trong các trường hợp có tranh chấp hoặc thiếu chứng cứ chứng minh quan hệ huyết thống trực hệ.
- Thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch và xác định lại dân tộc: Phân định rõ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân. Hướng dẫn việc đính chính các sai sót do lỗi của cán bộ làm công tác hộ tịch hoặc do người dân kê khai không chính xác.
Các nội dung hướng dẫn trọng tâm về nghiệp vụ chứng thực
Về công tác chứng thực, Công văn 8214/BTP-HCTP đưa ra các giải pháp tháo gỡ vướng mắc liên quan đến chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch:
- Chứng thực bản sao từ bản chính: Xác định rõ các loại giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao (như giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa, hoặc có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội). Hướng dẫn cách xử lý đối với các văn bản, giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp chưa được hợp pháp hóa lãnh sự.
- Chứng thực chữ ký trên giấy tờ, văn bản: Quy định cụ thể về trách nhiệm của người thực hiện chứng thực trong việc kiểm tra tính tự nguyện, năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu chứng thực chữ ký. Làm rõ các trường hợp không được chứng thực chữ ký để phòng ngừa rủi ro pháp lý.
- Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản và động sản: Hướng dẫn về thẩm quyền, địa bàn chứng thực hợp đồng giao dịch đối với quyền sử dụng đất, nhà ở và các tài sản khác. Giải quyết vướng mắc về việc ủy quyền thực hiện giao dịch và vai trò của người phiên dịch trong quá trình chứng thực.
Ý nghĩa và tác động của văn bản đối với thực tiễn áp dụng pháp luật
Công văn 8214/BTP-HCTP đóng vai trò là cẩm nang nghiệp vụ thiết thực cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch tại địa phương. Việc ban hành công văn giúp:
- Thống nhất quy trình thực hiện thủ tục hành chính về hộ tịch và chứng thực trên phạm vi cả nước, hạn chế tình trạng mỗi địa phương áp dụng một kiểu khác nhau.
- Giảm thiểu phiền hà cho người dân khi thực hiện các giao dịch dân sự và thủ tục hành chính liên quan đến nhân thân.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp cơ sở, đồng thời tăng cường tính chịu trách nhiệm của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 8214 /BTP-HCTP | Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2012 |
Kính gửi: Sở Tư pháp thành phố Hà Nội
Bộ Tư pháp nhận được Công văn số 1413/STP-HCTP về việc xin ý kiến hướng dẫn nghiệp vụ về hộ tịch và chứng thực của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, về việc này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
1. Về thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ, văn bản song ngữ
Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 của Chính phủ - sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký - đã quy định rõ: Thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và giấy tờ, văn bản song ngữ thuộc về Phòng Tư pháp cấp huyện.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì các quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP hết hiệu lực vì được thay thế bởi Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ; do vậy, các quy định hướng dẫn của Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp liên quan đến việc chứng thực bản sao giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và giấy tờ, văn bản song ngữ (hướng dẫn thực hiện điểm a, điểm b khoản 1 Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP) đương nhiên hết hiệu lực thi hành. Kể từ ngày 5/3/2012, việc chứng thực bản sao các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và giấy tờ, văn bản song ngữ thực hiện thống nhất theo quy định của Nghị định số 04/2012/NĐ-CP .
2. Về việc xác định văn bản song ngữ
Pháp luật hiện hành chưa có quy định thế nào là “Văn bản song ngữ”. Tuy nhiên, tham khảo trong Từ điển Tiếng Việt và thực tế cho thấy, văn bản song ngữ là văn bản được thể hiện bằng hai ngôn ngữ. Nhưng để thực hiện chứng thực theo quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP thì bắt buộc phải có một ngôn ngữ là tiếng Việt (Ví dụ: văn bản song ngữ Việt - Anh, Việt - Pháp, Việt - Đức…).
3. Về việc chứng thực giấy ủy quyền
Nhằm tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện một số việc dân sự đơn giản thì không nhất thiết phải làm hợp đồng ủy quyền, mà có thể làm giấy ủy quyền có chứng thực chữ ký của Ủy ban nhân dân cấp xã. Ví dụ: Ủy quyền nộp hồ sơ đăng ký hộ tịch, nhận bưu phẩm, lấy hộ giấy tờ, lĩnh hộ lương hưu hoặc nhận giúp tài sản có giá trị nhỏ…, Ủy ban nhân dân cấp xã có thể chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền theo quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.
4 Về đăng ký lại việc sinh
Theo quy định tại Điều 46 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch thì việc sinh đã được đăng ký, nhưng sổ hộ tịch và bản chính Giấy khai sinh đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thì được đăng ký lại.
Trong quá trình giải quyết yêu cầu đăng ký lại việc sinh, nếu xác minh được Sổ đăng ký khai sinh còn được lưu thì cơ quan đăng ký hộ tịch hướng dẫn đương sự về nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh để làm thủ tục cấp lại bản chính Giấy khai sinh; trường hợp đương sự đã thực hiện đăng ký lại việc sinh, sau đó mới tìm thấy Sổ đăng ký khai sinh, thì phải thu hồi và hủy Giấy khai sinh đã cấp theo thủ tục đăng ký lại, sau đó căn cứ vào Sổ đăng ký khai sinh đang lưu trữ để cấp lại bản chính Giấy khai sinh.
5. Về việc nhận cha, mẹ, con
Theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/2/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân gia đình và chứng thực, thì: “Việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Mục này được thực hiện, nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp giữa những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc nhận cha, mẹ, con”.
Hiện nay chưa có hướng dẫn “những người có quyền và lợi ích liên quan” đến việc nhận cha, mẹ, con gồm những ai. Nhưng từ quy định trên thì hiểu rằng, trước hết phải gồm các bên liên quan trực tiếp đến việc nhận cha, mẹ, con như: người nhận hoặc được nhận là cha, người nhận hoặc được nhận là mẹ, người nhận hoặc được nhận là con (ba bên cha - mẹ - con). Quan trọng nhất là phải có sự tự nguyện, không có tranh chấp giữa những người này. Đồng thời, pháp luật cũng không quy định bắt buộc phải có ý kiến đồng ý của những người liên quan khác (thuộc hàng thừa kế thứ nhất).
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết việc đăng ký nhận cha, mẹ, con nếu có tranh chấp giữa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha, mẹ, con, tức là những người có quyền, lợi ích liên quan khác, thì việc nhận cha, mẹ, con theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và Nghị định số 06/2012/NĐ-CP cũng không thực hiện được.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tư pháp giải đáp những vướng mắc về nghiệp vụ chứng thực, hộ tịch mà Sở Tư pháp nêu tại Công văn số 1413/STP-HCTP. Đối với vướng mắc tại điểm 3 Mục II liên quan đến thay đổi phần khai về cha, mẹ của con nuôi, Bộ Tư pháp sẽ hướng dẫn riêng.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn 3849/BTP-HCTP năm 2014 hướng dẫn nghiệp vụ về chứng thực do Bộ Tư pháp ban hành
- 2Công văn 5622/BTP-HCTP năm 2012 hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực bản sao từ bản chính Hợp đồng lao động do Bộ Tư pháp ban hành
- 3Công văn 8584/BTP-HCTP năm 2012 hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực do Bộ Tư pháp ban hành
- 4Công văn 640/BTP-PLQT năm 2019 về văn bản chứng thực quyền thừa kế tài sản của Văn phòng công chứng Maaldrink tại La Hay, Hà Lan do Bộ Tư pháp ban hành
- 1Nghị định 158/2005/NĐ-CP về việc đăng ký và quản lý hộ tịch
- 2Nghị định 79/2007/NĐ-CP về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
- 3Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- 4Thông tư 03/2008/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký do Bộ Tư pháp ban hành
- 5Nghị định 04/2012/NĐ-CP sửa đổi Điều 5 Nghị định 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
- 6Nghị định 06/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực
- 7Công văn 3849/BTP-HCTP năm 2014 hướng dẫn nghiệp vụ về chứng thực do Bộ Tư pháp ban hành
- 8Công văn 5622/BTP-HCTP năm 2012 hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực bản sao từ bản chính Hợp đồng lao động do Bộ Tư pháp ban hành
- 9Công văn 8584/BTP-HCTP năm 2012 hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực do Bộ Tư pháp ban hành
- 10Công văn 640/BTP-PLQT năm 2019 về văn bản chứng thực quyền thừa kế tài sản của Văn phòng công chứng Maaldrink tại La Hay, Hà Lan do Bộ Tư pháp ban hành
Công văn 8214/BTP-HCTP năm 2012 hướng dẫn nghiệp vụ về hộ tịch và chứng thực do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 8214/BTP-HCTP
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 09/10/2012
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Công Khanh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/10/2012
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
