Tóm tắt Công văn 6925/TCHQ-GSQL về vướng mắc hàng hóa tái nhập
Công văn 6925/TCHQ-GSQL do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan và áp dụng chính sách thuế đối với hàng hóa đã xuất khẩu nhưng phải tái nhập trở lại Việt Nam. Dưới đây là nội dung phân tích chi tiết các quy định cốt lõi của văn bản này:
1. Thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu bị trả lại (tái nhập)
Tổng cục Hải quan hướng dẫn cụ thể về quy trình thực hiện thủ tục đối với các lô hàng đã xuất khẩu nhưng bị đối tác nước ngoài trả lại để sửa chữa, tái chế, tiêu thụ nội địa hoặc tiêu hủy:
- Hình thức khai báo: Người khai hải quan thực hiện đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu (tái nhập) theo mã loại hình tương ứng (ví dụ: A31 - Nhập khẩu hàng hóa đã xuất khẩu bị trả lại).
- Hồ sơ hải quan yêu cầu: Ngoài các chứng từ nhập khẩu thông thường, doanh nghiệp phải nộp thêm văn bản thỏa thuận với đối tác nước ngoài về việc nhận lại hàng hóa, tờ khai hải quan xuất khẩu ban đầu, và các tài liệu chứng minh lý do hàng hóa bị trả lại.
- Địa điểm làm thủ tục: Thủ tục tái nhập được thực hiện tại Chi cục Hải quan nơi đã làm thủ tục xuất khẩu lô hàng đó hoặc Chi cục Hải quan cửa khẩu nơi hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam.
2. Chính sách thuế đối với hàng hóa tái nhập
Chính sách thuế đối với hàng hóa tái nhập được phân loại rõ ràng dựa trên mục đích sử dụng sau khi tái nhập:
- Trường hợp tái nhập để sửa chữa, tái chế rồi tái xuất: Doanh nghiệp được áp dụng cơ chế không thu thuế nhập khẩu và không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) ở khâu nhập khẩu, với điều kiện hàng hóa phải được tái xuất khẩu trong thời hạn đăng ký với cơ quan hải quan.
- Trường hợp hoàn thuế xuất khẩu: Đối với hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế xuất khẩu nhưng phải tái nhập trả lại, doanh nghiệp được xem xét hoàn trả số tiền thuế xuất khẩu đã nộp tương ứng với lượng hàng thực tế tái nhập.
- Trường hợp chuyển tiêu thụ nội địa: Nếu hàng hóa tái nhập không được tái xuất mà chuyển sang tiêu thụ tại thị trường Việt Nam, doanh nghiệp phải thực hiện kê khai và nộp đầy đủ các loại thuế (thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có) theo quy định đối với hàng hóa nhập khẩu thương mại thông thường.
3. Quản lý và giám sát hải quan đối với quá trình tái chế
Để đảm bảo tính minh bạch và ngăn ngừa gian lận thương mại, cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp giám sát chặt chẽ:
- Đăng ký thời hạn tái chế: Doanh nghiệp có nghĩa vụ đăng ký rõ ràng thời gian cần thiết để thực hiện việc sửa chữa, tái chế với cơ quan hải quan. Thời hạn này phải phù hợp với quy trình sản xuất thực tế của doanh nghiệp.
- Xử lý quá hạn tái xuất: Nếu quá thời hạn đã đăng ký mà doanh nghiệp chưa thực hiện tái xuất khẩu hàng hóa, cơ quan hải quan sẽ tiến hành ấn định thuế và xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật hiện hành.
- Kiểm tra thực tế hàng hóa: Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra thực tế đối với các lô hàng tái nhập có dấu hiệu nghi ngờ về chủng loại, số lượng hoặc tình trạng chất lượng so với tờ khai xuất khẩu ban đầu.
4. Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp chế xuất và sản xuất xuất khẩu
Văn bản đưa ra các giải pháp linh hoạt nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
- Đối với doanh nghiệp chế xuất (DNCX): Thủ tục tái nhập hàng hóa của DNCX được tối giản hóa nhằm tạo điều kiện cho việc sửa chữa, khắc phục lỗi sản phẩm nhanh chóng, giúp doanh nghiệp kịp thời giao lại hàng cho đối tác nước ngoài.
- Phối hợp thông tin giữa các đơn vị hải quan: Tăng cường sự liên thông dữ liệu giữa Chi cục Hải quan nơi quản lý tờ khai xuất khẩu ban đầu và Chi cục Hải quan nơi tiếp nhận tờ khai tái nhập để rút ngắn thời gian thông quan cho doanh nghiệp.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 6925/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2009 |
Kính gửi: Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai
Trả lời công văn số 02576/HQĐNa-NV ngày 22/10/2009 của Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai về việc nêu tại trích yếu, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Căn cứ điểm a2, khoản 7, Điều 112 Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009 của Bộ Tài chính, thì:
Lô hàng vải mộc (vải dệt thoi 100% polyester) của Công ty Hualon Coporation Việt Nam đã xuất khẩu cho khách hàng Trung Quốc, nay lô hàng bị khách hàng Trung Quốc gửi trả lại Công ty nhưng mặt hàng vải không còn nguyên trạng như lúc xuất khẩu mà vải đã được gia công, xử lý nhuộm, chà mịn ở nước ngoài. Mặt khác, đối với lô hàng vải bị trả lại nêu trên, Công ty không tái chế, không sửa chữa để gửi lại (tái xuất lại) cho khách hàng Trung Quốc mà sẽ tiêu thụ nội địa, không đáp ứng được điều kiện hoàn thuế. Thủ tục để Công ty tiếp nhận lại lô hàng vải nêu trên được áp dụng theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1; điểm a, b khoản 2 và điểm a, b khoản 4 Điều 51 và điểm c khoản 7 Điều 112 của Thông tư số 79/2009/TT-BTC.
Đề nghị Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai thực hiện nội dung trên./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 6925/TCHQ-GSQL về việc vướng mắc hàng tái nhập do Tổng cục Hải quan ban hành
- Số hiệu: 6925/TCHQ-GSQL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 16/11/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Hoàng Việt Cường
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/11/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
