Tổng quan về Công văn 6094/TCT-CS năm 2024
Công văn 6094/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành năm 2024 hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế đối với sản phẩm gỗ rừng trồng chưa qua chế biến hoặc mới chỉ qua sơ chế thông thường. Văn bản nhằm giải đáp thắc mắc của các Cục Thuế và doanh nghiệp, bảo đảm tính thống nhất trong việc áp dụng chính sách thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và quản lý hóa đơn, chứng từ trong khâu lưu thông, kinh doanh lâm sản.
- Chính sách thuế Giá trị gia tăng (GTGT) ở khâu kinh doanh thương mại
- Đối với trường hợp bán cho Doanh nghiệp, Hợp tác xã: Sản phẩm gỗ rừng trồng chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường do doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
- Khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Mặc dù không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đầu ra ở khâu bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào có liên quan theo quy định.
- Đối với trường hợp bán cho các đối tượng khác: Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bán sản phẩm gỗ rừng trồng chưa qua chế biến cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân khác thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất quy định (thông thường là 5%).
- Chính sách thuế GTGT ở khâu trực tiếp trồng, khai thác bán ra
- Sản phẩm gỗ rừng trồng chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường do các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp trồng, chăm sóc và khai thác bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
- Các tổ chức, hộ, cá nhân trực tiếp sản xuất, khai thác không phải xuất hóa đơn GTGT mà sử dụng chứng từ, hóa đơn bán hàng theo quy định hiện hành khi giao dịch.
- Xử lý hóa đơn và kê khai thuế đối với sản phẩm gỗ sơ chế
- Xác định hình thức sơ chế thông thường: Các hoạt động sơ chế gỗ rừng trồng như phơi, sấy, bóc vỏ, cắt xẻ thành thanh, lột ván... chưa làm thay đổi bản chất tự nhiên của sản phẩm thì vẫn được áp dụng chính sách thuế GTGT đối với sản phẩm nông, lâm nghiệp chưa qua chế biến.
- Nghĩa vụ xuất hóa đơn: Cơ sở kinh doanh khi lập hóa đơn cho trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT phải ghi rõ dòng thuế suất là không kê khai, tính nộp thuế GTGT theo đúng quy định về hóa đơn, chứng từ.
- Trách nhiệm quản lý và tuân thủ của Cơ quan thuế và Doanh nghiệp
- Cơ quan thuế các cấp: Có trách nhiệm tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát việc kê khai thuế và hoàn thuế GTGT liên quan đến mặt hàng gỗ rừng trồng; kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi lợi dụng chính sách để gian lận hóa đơn hoặc trốn thuế.
- Doanh nghiệp và tổ chức kinh doanh: Cần chủ động rà soát hồ sơ pháp lý, nguồn gốc lâm sản hợp pháp, hợp đồng mua bán và chứng từ thanh toán để bảo đảm điều kiện được hưởng chính sách không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT và hoàn thuế GTGT đầu vào theo đúng pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| | Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2024 |
Kính gửi: Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 53/HHG-VP ngày 15/10/2024 của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam kiến nghị bổ sung quy định về chính sách thuế đối với sản phẩm gỗ rừng trồng chưa qua chế biến. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng (GTGT)
Căn cứ khoản 1 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT;
Căn cứ điểm đ khoản 3 Điều 2 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT;
Căn cứ khoản 5 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT;
Căn cứ khoản 2 Điều 13 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
Căn cứ các quy định trên, sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng) chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường do tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bán sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng) chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì kê khai, tính nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 1% trên doanh thu.
Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT mua sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng) chưa chế biến thành sản phẩm khác về sơ chế sau đó bán ra thì phải nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 3% trên doanh thu.
2. Quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn các khoản thu nhập được miễn thuế thì thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế thông thường chưa qua chế biến thành sản phẩm khác đáp ứng các điều kiện theo quy định tại điểm e, khoản 1, 2 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính được miễn thuế TNCN.
Do đó, đề nghị Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam thực hiện chính sách thuế GTGT, thuế TNCN theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.
Tổng cục Thuế có ý kiến để Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 6094/TCT-CS năm 2024 về chính sách thuế đối với sản phẩm gỗ rừng trồng chưa qua chế biến do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 6094/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/12/2024
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Thanh Hằng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/12/2024
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
