Giới thiệu về Công văn 5826/BXD-KTXD
Công văn 5826/BXD-KTXD được ban hành bởi Bộ Xây dựng nhằm báo cáo và đánh giá toàn diện về tình hình biến động giá cả vật liệu xây dựng cũng như diễn biến của thị trường bất động sản trong Quý IV và tổng kết cả năm 2022. Đây là văn bản quan trọng giúp các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các bên liên quan nắm bắt thực trạng thị trường, từ đó đưa ra các giải pháp điều tiết vĩ mô và định hướng phát triển phù hợp.
Tình hình giá cả vật liệu xây dựng Quý IV và cả năm 2022
Công văn tập trung phân tích sâu sắc về xu hướng biến động giá của các loại vật liệu xây dựng chủ chốt, cụ thể bao gồm:
- Biến động giá thép xây dựng: Ghi nhận những đợt điều chỉnh giá tăng giảm đan xen do ảnh hưởng từ giá nguyên liệu đầu vào trên thị trường quốc tế (quặng sắt, thép phế liệu) và nhu cầu tiêu thụ trong nước.
- Giá xi măng và cát, đá xây dựng: Xu hướng biến động giá của xi măng dưới áp lực tăng giá của than cám và các chi phí năng lượng đầu vào khác. Đồng thời, tình trạng khan hiếm cục bộ cát san lấp và đá xây dựng tại một số dự án hạ tầng giao thông trọng điểm cũng được làm rõ.
- Tác động đến các dự án đầu tư công: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc biến động giá vật liệu xây dựng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, việc thực hiện hợp đồng xây dựng và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nhà thầu.
Diễn biến thị trường bất động sản Quý IV và cả năm 2022
Báo cáo của Bộ Xây dựng chỉ ra những đặc điểm nổi bật và các nút thắt của thị trường bất động sản trong giai đoạn này:
- Nguồn cung và lượng giao dịch: Phân tích sự sụt giảm nguồn cung mới ở hầu hết các phân khúc (nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, đất nền) và sự suy giảm lượng giao dịch do rào cản về dòng vốn và tín dụng.
- Giá bán bất động sản: Đánh giá xu hướng giá bán căn hộ chung cư, nhà ở riêng lẻ và đất nền. Mặc dù giao dịch trầm lắng nhưng giá bán ở một số phân khúc vẫn neo ở mức cao do chi phí đầu vào tăng.
- Tình hình hoạt động của doanh nghiệp địa ốc: Nêu rõ những khó khăn về tiếp cận nguồn vốn tín dụng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp và áp lực thanh khoản dòng tiền đối với các chủ đầu tư.
Đề xuất giải pháp và kiến nghị của Bộ Xây dựng
Để ổn định thị trường vật liệu xây dựng và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, an toàn, bền vững, Bộ Xây dựng đã đưa ra các nhóm giải pháp trọng tâm:
- Về quản lý giá vật liệu xây dựng: Đề nghị các địa phương tăng cường theo dõi, sát sao diễn biến giá cả, công bố chỉ số giá xây dựng kịp thời, sát thực tế; kiểm soát chặt chẽ tình trạng đầu cơ, găm hàng, thổi giá.
- Về tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản: Kiến nghị các bộ, ngành phối hợp rà soát, hoàn thiện thể chế pháp lý; khơi thông nguồn vốn tín dụng cho các dự án khả thi, đặc biệt là phân khúc nhà ở xã hội, nhà ở công nhân; thúc đẩy tiến độ phê duyệt dự án tại các địa phương.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ XÂY DỰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5826/BXD-KTXD | Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2022 |
Kính gửi: Bộ Tài chính
Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 12584/BTC-QLG ngày 30/11/2022 của Bộ Tài chính về việc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá tại Thông báo số 333/TB-VPCP ngày 25/10/2022 về việc tổ chức cuộc họp định kỳ hàng quý. Bộ Xây dựng có ý kiến về thông tin tình hình giá cả vật liệu xây dựng, thị trường bất động sản trong Quý IV và cả năm 2022 như sau:
1. Về tình hình giá vật liệu xây dựng
a) Giá thép: Trong nửa đầu năm 2022, giá thép liên tục tăng (ghi nhận việc điều chỉnh tăng giá 7 lần trong 6 tháng đầu năm, riêng trong tháng 3/2022, giá thép tăng nóng 6 lần[1]).
Tuy nhiên trong 2 tháng tiếp theo, giá thép đã điều chỉnh giảm liên tiếp 7 lần, đưa giá thép trở về mặt bằng giá các tháng cuối năm 2021[2]. Nguyên nhân giá thép liên tục giảm là do giá nguyên liệu đầu vào giảm mạnh, cùng với đó nguồn cung dồi dào, hàng tồn kho còn nhiều, buộc các doanh nghiệp phải hạ giá sản phẩm nhằm kích cầu.
Đến tháng 10/2022, tình hình sản xuất và tiêu thụ thép tiếp tục diễn biến theo chiều hướng đi xuống[3] do nguyên liệu sản xuất thép như quặng sắt, cuộn cán nóng (HCR), thép phế liệu nhập khẩu giảm giá mạnh.
Tính đến thời điểm hiện tại, giá thép giữ mức ổn định so với thời điểm tháng 10/2022, giá thép trung bình trong khoảng 14.400 đ/kg-15.500đ/kg tùy khu vực. Nguyên nhân giá thép giữ ổn định do hàng tồn kho trong nước cao và nhu cầu giảm do thị trường xây dựng bất động sản trong nước cũng như trong khu vực đang suy yếu. Trong đó, giảm cầu là mối lo ngại chính khiến giá thép có thể tiếp tục giảm trong thời gian ngắn hạn tới.
b) Giá xi măng:
Từ tháng 3/2022 đến tháng 10/2022, giá xi măng cơ bản giữ ổn định với mức giá khoảng 1200-2.900 đồng/kg, tăng khoảng 15% so với quý IV/2021 và tăng khoảng 18% so với quý IV/2020. Giá xi măng có xu hướng tăng bình quân 1,45% hàng tháng.
Từ tháng 11/2022 đến nay, giá ximăng tiếp tục neo cao với mức giá khoảng 1.400-2.500 đồng/kg, do giá nguyên liệu đầu vào cao, đặc biệt là giá than, chi phí đầu vào cao buộc nhiều doanh nghiệp phải tăng giá bán. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu thụ xi măng trong nước và xuất khẩu xi măng lại chậm và suy yếu, ngược lại với giá bán, dẫn đến tình trạng dư nguồn cung gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong ngành Xi măng.
c) Nhựa đường:
Tính đến tháng 07/2022, giá nhựa đường vẫn giữ mức giá trung bình khoảng 17.000 đồng/kg[4]. Đến tháng 9/2022, giá nhựa đường giảm khoảng 500 đồng/kg, mức giá trung bình khoảng 16.500 đồng/kg[5].
Các tháng cuối năm giá nhựa đường giữ cơ bản ổn định ở mức 16.500 đồng/kg. Giá nhựa đường tăng so với các năm trước đây do ảnh hưởng từ việc tăng giá xăng dầu trên thế giới. Giá nhựa đường tăng ảnh hưởng đến dự toán xây dựng công trình giao thông, do nhựa đường chiếm giá trị lớn trong tổng chi phí xây dựng loại hình công trình này.
d) Giá vật liệu khai thác tự nhiên
- Cát vàng: Trong nửa đầu năm 2022, giá cát xây dựng trên cả nước có xu hướng tăng nhưng không có sự biến động bất thường[6]. Việc giá cát vàng tăng cao và không có dấu hiệu giảm nguyên nhân chủ yếu do khan hiếm nguồn cung, tình trạng khan hiếm cát không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà còn diễn ra ở nhiều quốc gia khác. Nửa cuối năm 2022, giá cát tăng nhẹ[7] do nhu cầu cuối năm gia tăng, giá trung bình từ 435.000-465.000 đ/m3. Giá cát năm 2022 cơ bản ổn định, không có diễn biến bất thường.
- Giá đá: Giá đá năm 2022 tương đối ổn định, thời điểm nửa cuối năm 2022 giá tại khu vực miền Bắc và miền Trung có xu hướng tăng so với nửa đầu năm 2022 (tăng trong khoảng 7-8%). Riêng miền Nam ghi nhận giảm giá đá so với nửa đầu năm 2022 (mức giảm trong khoảng 2-3%).
2. Về tình hình thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản nửa đầu năm 2022 cơ bản giữ mức giá như thời điểm cuối năm 2021, có tăng nhẹ tại phân khúc căn hộ chung cư. Trong tháng 9/2022, giá bán căn hộ chung cư bình quân toàn thị trường tiếp tục xu hướng tăng nhẹ tại hầu hết các địa phương, khoảng từ 2-3%; giá bán bình quân toàn thị trường đối với nhà ở riêng lẻ và đất nền cơ bản ổn định. Thị trường bất động sản cho thuê tiếp tục tăng giá so với tháng trước, khoảng từ 0,6-3,8%.
Tuy nhiên trong Quý IV/2022, thị trường bất động sản trong trạng thái trầm lắng, nhất là phân khúc đất nền[8]. Giá bán căn hộ chung cư bình quân tuy đã chững lại ở giai đoạn nửa sau quý IV nhưng giá bình quân quý vẫn tăng nhẹ so với giá bình quân quý trước tại một số địa phương như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Khánh Hòa; đối với các địa phương còn lại giá bán căn hộ chung cư bình quân cơ bản ổn định. Giá bất động sản cho thuê trong quý IV tiếp tục tăng so với quý trước.
Cụ thể tại tháng 12, giá bán căn hộ chung cư bình quân toàn thị trường thứ cấp giảm nhẹ tại hầu hết các địa phương. Giá bán bình quân toàn thị trường đối với nhà ở riêng lẻ và đất nền đều có xu hướng giảm rõ rệt, nhiều dự án có mức giảm trong tháng tương đối lớn. Thị trường bất động sản cho thuê văn phòng giảm giá nhẹ còn chung cư cho thuê giá ổn định so với tháng trước.
Mức biến động giá cụ thể tại một số địa phương trong tháng 12/2022 và Quý IV/2022 như sau:
a) Tại Hà Nội: Phân khúc căn hộ chung cư để bán: giảm 0,06% so với tháng 11/2022 và tăng 2,61% so với Quý III/2022; Nhà ở riêng lẻ: giảm 2,57% so với tháng 11/2022 và giảm 2,03% so với Quý III/2022; Đất nền: giảm 0,96% so với tháng 11/2022, giảm 3,44% so với Quý III/2022; Văn phòng cho thuê: giảm 1,7% so với tháng 11/2022, tăng 1,55% so với Quý III/2022; Chung cư cho thuê: tăng 0,05% so với tháng 11/2022, tăng 4,15% so với Quý III/2022.
b) Tại thành phố Hồ Chí Minh: Phân khúc căn hộ chung cư để bán: giảm 0,29% so với tháng 11/2022 và táng 1,81% so với Quý III/2022; Nhà ở riêng lẻ: giảm 1,13% so với tháng 11/2022 và giảm 1,18% so với Quý III/2022; Đất nền: giảm 1,77% so với tháng 11/2022, giảm 2,52% so với Quý III/2022; Văn phòng cho thuê: giảm 1,3% so với tháng 11/2022, tăng 4,52% so với Quý III/2022; Chung cư cho thuê: tăng 0,02% so với tháng 11/2022, tăng 4,05% so với Quý III/2022.
c) Tại một số địa phương khác:
Tại các địa phương, phân khúc đất nền cũng có giá bình quân giảm cao nhất trong các phân khúc. So với Quý III/2022, một số dự án có mức giảm giá cao, cụ thể:
- Tại Đà Nẵng, giá đất nền bình quân so với quý trước của dự án Lakeside Palace (Liên Chiểu) giảm khoảng 6,3% (xuống mức 21,1 triệu đồng/m2), FPT City Đà Nẵng (Ngũ Hành Sơn) giảm khoảng 4,0% (xuống mức 30,2 triệu đồng/m2).
- Tại Hải Phòng, giá đất nền bình quân so với quý trước của dự án Khu dân cư Gò Gai (huyện Thủy Nguyên) giảm khoảng 7,9% (xuống mức 36,3 triệu đồng/m2), Dương Kinh New City (quận Dương Kinh) giảm khoảng 8,1% (xuống mức 16,7 triệu đồng/m2).
- Tại Bình Dương: Giá đất nền bình quân so với quý trước của dự án Mỹ Phước 2 (TX Bến Cát) giảm khoảng 4,6% (xuống mức 16,5 triệu đồng/m2), VSIP2 mở rộng (Tân Uyên) giảm khoảng 3,9% (xuống mức 13,9 triệu đồng/m2).
- Tại Đồng Nai, giá đất nền bình quân so với quý trước của dự án Khu đô thị mới Long Thọ (Nhơn Trạch) giảm khoảng 4,4% (xuống mức 12,7 triệu đồng/m2), Đại Phước Lotus (Nhơn Trạch) giảm khoảng 5,8% (xuống mức 33,4 triệu đồng/m2).
- Tại Khánh Hòa, giá đất nền bình quân so với quý trước của dự án Nha Trang River Park (TP Nha Trang) giảm khoảng 3,6% (xuống mức 35,6 triệu đồng/m2), Golden Bay (TP Cam Ranh) giảm khoảng 3,7% (xuống mức 32,9 triệu đồng/m2).
- Tại Bà Rịa Vũng Tàu, giá đất nền bình quân so với quý trước của dự án Phú Mỹ Center Point (TX Phú Mỹ) giảm khoảng 3,5% (xuống mức 29,6 triệu đồng/m2).
3. Dự báo thị trường vật liệu xây dựng và thị trường bất động sản năm 2023 và phương án điều hành giá
Trong Quý I/2023, giá thép có khả năng tiếp tục giảm nhẹ do nguyên nhân giảm cầu. Các loại vật liệu xây dựng khác tăng nhẹ khi các dự án quan trọng quốc gia khởi công trên diện rộng.
Dự kiến trong Quý I/2023 giá bất động sản nhà ở riêng lẻ và đất nền tiếp tục giảm do nguồn vốn đầu tư đổ vào thị trường bất động sản giảm và nguồn cung đang giảm mạnh. Tuy nhiên, biến động giảm không lớn do Chủ đầu tư cố gắng neo giá ở mức cao để tác động tích cực tâm lý đầu tư.
Bộ Xây dựng tiếp tục phối hợp cùng các Bộ ngành có liên quan tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soát và quản lý thị trường vật liệu xây dựng, thị trường bất động sản phát triển bền vững (theo dõi chặt chẽ diễn biến của thị trường, tăng cường việc kiểm soát của địa phương trong công bố giá vật liệu xây dựng, quản lý khai thác, sử dụng đất, cung cấp thông tin minh bạch về quy hoạch và lộ trình triển khai dự án...).
Trên đây là báo cáo về diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, thị trường bất động sản Quý IV và cả năm 2022 của Bộ Xây dựng. Đề nghị Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Trưởng Ban chỉ đạo điều hành giá./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
[1] Vượt mức 19 triệu đồng/tấn và tăng khoảng 2,4 triệu đồng/tấn so với cuối năm 2021.
[2] Trung bình khoảng 17.000 đ/kg (chưa có thuế VAT). Trong các tháng 7 và tháng 8 giá thép tiếp tục giảm từ 17.000đ/kg xuống 14.500đ/kg, giảm tiếp 15% so với mức thấp nhất của tháng 5/2022.
[3] Giảm lần lượt 16,38% và 29,4% so với cùng kỳ.
[4] Tăng khoảng 15% so với quý IV/2021 và tăng khoảng 30% so với quý IV/2020.
[5] Tăng khoảng 14% so với quý IV/2021 và tăng khoảng 30% so với quý IV/2020.
[6] Mức tăng được ghi nhận bình quân tỷ lệ 1,53% hàng quý; riêng loại cát vàng cát chuyên dùng để đổ bê tông thì mức giá bán ngoài thị trường dao động khoảng từ 420.000 đến 460.000 đ/m3.
[7] Mức tăng 1-2%.
[8] Nhiều nhà đầu tư giảm giá rao bán đất nền chấp nhận “cắt lỗ” xuống mức thấp hơn giá mua vào ở thời điểm năm 2020 nhưng cũng không thanh khoản được. Chủ đầu tư một số dự án bất động sản đã phải giảm giá bán sơ cấp đến 40%-50% để thu hút những nhà đầu tư có sẵn tiền mặt nhằm huy động vốn từ khách hàng.
- 1Công văn 6622/VPCP-KTTH năm 2022 về quản lý điều hành giá do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2Thông báo 333/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái - Trưởng Ban chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về công tác quản lý, điều hành giá 9 tháng đầu năm 2022 và định hướng các tháng cuối năm 2022 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Chỉ thị 03/CT-BTC năm 2022 về tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023 do Bộ Tài chính ban hành
- 4Nghị quyết 33/NQ-CP năm 2023 về giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững do Chính phủ ban hành
- 5Công văn 178/TTg-CN năm 2023 về thúc đẩy và tháo gỡ thị trường bất động sản do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6Công văn 2445/VPCP-CN năm 2023 về các giải pháp hỗ trợ cho sự phát triển của khối doanh nghiệp và các doanh nghiệp bất động sản do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 7Công điện 573/CĐ-TTg năm 2023 về tháo gỡ khó khăn vướng mắc liên quan đến khai thác, cung ứng vật liệu xây dựng thông thường cho Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 do Thủ tướng Chính phủ điện
- 8Công văn 2396/BXD-KTXD năm 2023 về khó khăn, vướng mắc trong công tác công bố giá vật liệu xây dựng là khoáng sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh do Bộ Xây dựng ban hành
- 1Công văn 6622/VPCP-KTTH năm 2022 về quản lý điều hành giá do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2Thông báo 333/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái - Trưởng Ban chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về công tác quản lý, điều hành giá 9 tháng đầu năm 2022 và định hướng các tháng cuối năm 2022 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Chỉ thị 03/CT-BTC năm 2022 về tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023 do Bộ Tài chính ban hành
- 4Nghị quyết 33/NQ-CP năm 2023 về giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững do Chính phủ ban hành
- 5Công văn 178/TTg-CN năm 2023 về thúc đẩy và tháo gỡ thị trường bất động sản do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6Công văn 2445/VPCP-CN năm 2023 về các giải pháp hỗ trợ cho sự phát triển của khối doanh nghiệp và các doanh nghiệp bất động sản do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 7Công điện 573/CĐ-TTg năm 2023 về tháo gỡ khó khăn vướng mắc liên quan đến khai thác, cung ứng vật liệu xây dựng thông thường cho Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 do Thủ tướng Chính phủ điện
- 8Công văn 2396/BXD-KTXD năm 2023 về khó khăn, vướng mắc trong công tác công bố giá vật liệu xây dựng là khoáng sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh do Bộ Xây dựng ban hành
Công văn 5826/BXD-KTXD về tình hình giá cả vật liệu xây dựng, thị trường bất động sản Quý IV và cả năm 2022 do Bộ Xây dựng ban hành
- Số hiệu: 5826/BXD-KTXD
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/12/2022
- Nơi ban hành: Bộ Xây dựng
- Người ký: Đàm Đức Biên
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/12/2022
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
