Giới thiệu chung về Công văn 5515/TCT-CS năm 2024
Công văn 5515/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành năm 2024 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng liên quan đến chính sách thu tiền thuê đất. Văn bản này nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, đồng thời đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật thuế và đất đai giữa các cơ quan thuế địa phương trên cả nước.
Các nội dung trọng tâm của Công văn 5515/TCT-CS
Nội dung hướng dẫn của Tổng cục Thuế tập trung vào các vấn đề cốt lõi sau:
- Xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất: Hướng dẫn chi tiết phương pháp tính tiền thuê đất đối với các trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm hoặc trả tiền một lần cho cả thời gian thuê. Việc xác định này phải căn cứ vào mục đích sử dụng đất, vị trí địa lý và bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tại thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính.
- Xử lý chuyển tiếp về miễn, giảm tiền thuê đất: Làm rõ nguyên tắc áp dụng ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất đối với các dự án đầu tư thuộc đối tượng ưu đãi theo quy định cũ và quy định mới. Hướng dẫn cụ thể cách thức xử lý đối với các trường hợp đang trong thời gian hưởng ưu đãi nhưng có sự thay đổi về quy hoạch hoặc mục đích sử dụng đất.
- Thủ tục hồ sơ và thẩm quyền giải quyết: Quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục nộp hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất. Xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên và Môi trường trong việc luân chuyển hồ sơ địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất.
Nguyên tắc áp dụng và tổ chức thực hiện
Để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong công tác quản lý thu tiền thuê đất, Tổng cục Thuế đưa ra các yêu cầu chỉ đạo sau:
- Các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chủ động rà soát các hồ sơ thuê đất còn tồn đọng trên địa bàn để xử lý dứt điểm theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật hiện hành.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và hỗ trợ người nộp thuế nắm bắt kịp thời các điểm mới của chính sách tiền thuê đất, hạn chế tối đa các sai sót trong quá trình kê khai và thực hiện nghĩa vụ tài chính.
- Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh các vướng mắc vượt quá thẩm quyền giải quyết, các Cục Thuế địa phương phải kịp thời báo cáo về Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính để được xem xét, hướng dẫn cụ thể.
Lưu ý: Nội dung tóm tắt trên đây được tổng hợp nhằm hỗ trợ tra cứu nhanh các định hướng xử lý của Tổng cục Thuế về tiền thuê đất. Người nộp thuế và cơ quan thuế địa phương cần đối chiếu trực tiếp với văn bản gốc và các quy định pháp luật đất đai hiện hành để áp dụng chính xác cho từng trường hợp cụ thể.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5515/TCT-CS | Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2024 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Kon Tum
Trả lời công văn số 1578/CTKTU-NVDTPC ngày 20/9/2024 của Cục Thuế tỉnh Kon Tum về vướng mắc trong việc thực hiện chính sách tiền thuê đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội quy định:
“Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai
1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:
i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.”
- Tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 333/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định:
“Điều 2. Bổ sung Khoản 2a, Khoản 10, Khoản 11, Khoản 12 vào Điều 5
4. Bổ sung Khoản 12 như sau:
“12. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư mà không thuộc đối tượng được gia hạn thời gian sử dụng đất hoặc thuộc đối tượng được gia hạn thời gian sử dụng đất nhưng không làm thủ tục để được gia hạn hoặc đã hết thời gian được gia hạn sử dụng đất theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 nhưng vẫn không đưa đất vào sử dụng và Nhà nước chưa có quyết định thu hồi đất; ngoài số tiền thuê đất phải nộp theo quy định, người sử dụng đất phải nộp bổ sung khoản tiền như sau:
a) Trường hợp không thuộc đối tượng được gia hạn thời gian sử dụng đất hoặc thuộc đối tượng được gia hạn thời gian sử dụng đất nhưng không làm thủ tục để được gia hạn:
- Trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định đơn giá thuê đất theo quy định của pháp luật thì khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung trong thời gian không đưa đất vào sử dụng được xác định theo số tiền thuê đất phải nộp hàng năm.
- Trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa xác định đơn giá thuê đất hoặc thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung trong thời gian không đưa đất vào sử dụng được xác định theo số tiền thuê đất phải nộp hàng năm. Số tiền thuê đất phải nộp hàng năm được xác định bằng (=) giá đất có cùng mục đích sử dụng tại Bảng giá đất nhân (x) với hệ số điều chỉnh giá đất nhân (x) với mức tỷ lệ phần trăm (%) tính đơn giá thuê đất nhân (x) với diện tích tính thu tiền thuê đất.
- Thời gian không đưa đất vào sử dụng được tính từ thời điểm được Nhà nước cho thuê đất đến thời điểm Nhà nước có quyết định thu hồi đất sau khi trừ đi thời gian tương ứng với thời gian xây dựng cơ bản được miễn tối đa không quá 03 (ba) năm (đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014) và không quá 02 (hai) năm (đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau).
b) Trường hợp được gia hạn thời gian sử dụng đất nhưng khi hết thời gian gia hạn Nhà nước chưa có quyết định thu hồi đất thì số tiền phải nộp bổ sung của thời gian không đưa đất vào sử dụng được xác định theo quy định tại Điểm a Khoản này. Thời gian không đưa đất vào sử dụng được xác định theo quy định tại Điểm a Khoản này trừ (-) đi thời gian gia hạn đã nộp tiền bổ sung theo quy định tại Khoản 11 Điều này.
c) Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán có văn bản gửi cơ quan thuế về việc người sử dụng đất được Nhà nước cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất thì cơ quan thuế phối hợp với cơ quan tài nguyên và môi trường xác định và thông báo khoản tiền phải nộp quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này cùng với kỳ thông báo nộp tiền thuê đất hàng năm theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 7 Thông tư này cho đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật đất đai.
d) Trường hợp người sử dụng đất có văn bản đề nghị trả lại đất theo quy định của pháp luật đất đai thì không phải nộp khoản tiền bổ sung quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận được văn bản đề nghị trả lại đất đến thời điểm có quyết định thu hồi đất...”
Căn cứ quy định trên, Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 333/2016/TT-BTC đã có hướng dẫn về thu khoản phải nộp bổ sung đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư mà không thuộc đối tượng được gia hạn thời gian sử dụng đất hoặc thuộc đối tượng được gia hạn thời gian sử dụng đất nhưng không làm thủ tục để được gia hạn thì thời gian không đưa đất vào sử dụng để tính thu khoản phải nộp bổ sung được tính từ thời điểm được Nhà nước cho thuê đất đến thời điểm Nhà nước có quyết định thu hồi đất sau khi trừ đi thời gian tương ứng với thời gian xây dựng cơ bản được miễn theo quy định. Trường hợp người sử dụng đất có văn bản đề nghị trả lại đất theo quy định của pháp luật đất đai thì không phải nộp khoản tiền bổ sung theo quy định tính từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận được văn bản đề nghị trả lại đất đến thời điểm có quyết định thu hồi đất.
Theo đó, trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum ban hành Quyết định số 302/QĐ-UBND ngày 08/6/2023 về việc thu hồi đất thuê thực hiện Dự án Khách sạn tại Khu đô thị phía Nam cầu Đăk Bla, thành phố Kon Tum của Công ty Cổ phần Chiến Thắng do Công ty vi phạm theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 theo Kết luận kiểm tra số 04/KL-STNMT ngày 08/3/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường và Công ty đã có văn bản tự nguyện trả lại đất thì Cục Thuế phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường để được xác định Công ty chậm tiến độ sử dụng đất thuộc trường hợp nào để làm căn cứ tính thu khoản phải nộp bổ sung theo đúng quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Kon Tum biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 5515/TCT-CS năm 2024 về tiền thuê đất do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 5515/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Hoàng Thị Hà Giang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/11/2024
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
