Giới thiệu chung về Công văn 5227/TCHQ-KTTT
Công văn 5227/TCHQ-KTTT được Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thống nhất thực hiện các biện pháp xử lý, quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mà chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài đã bỏ trốn hoặc về nước, không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh nhưng vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước.
- Xác minh tình trạng hoạt động của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp
- Các cơ quan hải quan địa phương có trách nhiệm chủ động phối hợp với cơ quan công an, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để xác minh thông tin xuất nhập cảnh của chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài.
- Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan thuế địa phương và chính quyền sở tại để kiểm tra, xác minh và lập biên bản ghi nhận tình trạng doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.
- Thu thập các chứng cứ, tài liệu liên quan để chứng minh chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn hoặc về nước mà không ủy quyền cho người khác thực hiện nghĩa vụ thuế.
- Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- Cơ quan hải quan phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành.
- Các biện pháp cưỡng chế bao gồm: trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Trường hợp chưa thực hiện được các biện pháp cưỡng chế nêu trên, cơ quan hải quan tiến hành đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Quy trình khoanh nợ thuế đối với doanh nghiệp không còn hoạt động
- Đối với các khoản nợ thuế của doanh nghiệp mà chủ sở hữu đã bỏ trốn hoặc về nước và doanh nghiệp được xác định là không còn hoạt động tại địa chỉ kinh doanh, cơ quan hải quan xem xét áp dụng thủ tục khoanh nợ thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14.
- Hồ sơ khoanh nợ phải đảm bảo đầy đủ các văn bản xác nhận của cơ quan chức năng về việc doanh nghiệp không còn hoạt động, văn bản xác minh của cơ quan xuất nhập cảnh về việc chủ doanh nghiệp đã xuất cảnh và chưa quay trở lại Việt Nam.
- Thời điểm khoanh nợ được tính từ ngày cơ quan hải quan có văn bản xác nhận doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
- Trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan ban ngành
- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan hải quan với cơ quan thuế nội địa để chia sẻ thông tin về tình hình nợ thuế, tình trạng hoạt động và các tài sản còn lại của doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại cung cấp thông tin tài khoản, số dư tài khoản của doanh nghiệp nợ thuế để phục vụ công tác cưỡng chế thu hồi nợ.
- Báo cáo kịp thời lên Tổng cục Hải quan các vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền trong quá trình xử lý nợ thuế đối với đối tượng này để được hướng dẫn giải quyết thống nhất trên toàn quốc.
Tóm lại, Công văn 5227/TCHQ-KTTT là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng, giúp tháo gỡ các khó khăn trong việc quản lý và xử lý nợ thuế khó thu hồi đối với các doanh nghiệp FDI có chủ sở hữu bỏ trốn, đồng thời tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật quản lý thuế tại Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5227/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 01 tháng 09 năm 2009 |
Kính gửi: Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai
Trả lời công văn số 2035/HQĐNa-ĐKS ngày 18/8/2009 của Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai về việc thực hiện công văn số 4188/TCHQ-KTTT ngày 14/7/2009 của Tổng cục có vướng mắc trong xử lý nợ thuế khi chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn về nước; Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Trường hợp xác định doanh nghiệp còn nợ tiền thuế, tiền phạt nhưng chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn về nước, doanh nghiệp có dấu hiệu phát tán tài sản thì cơ quan hải quan làm việc với cấp phó của người đại diện hợp pháp hoặc kế toán trưởng của doanh nghiệp để xác minh tình trạng hoạt động của doanh nghiệp (nếu không có các đối tượng trên thì làm việc với đối tượng hiện đang quản lý hàng hóa, tài sản của doanh nghiệp) và lập Biên bản có xác nhận của chính quyền địa phương, cơ quan Công an, cơ quan Thuế quản lý doanh nghiệp. Nếu nợ thuế, nợ phạt đã đến hạn cưỡng chế thì thực hiện theo quy định tại Điều 95, Điều 96, Điều 99 Luật Quản lý thuế, phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan Công an để cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên.
2. Việc kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên: Thực hiện theo hướng dẫn tại mục IV Phần II Thông tư 62/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai biết và thực hiện./
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Luật quản lý thuế 2006
- 2Thông tư 62/2007/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 97/2007/NĐ-CP quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan do Bộ Tài Chính ban hành
- 3Công văn số 4188/TCHQ-KTTT về việc theo dõi và xử lý nợ thuế đối với chủ doanh nghiệp bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh và chủ doanh nghiệp xuất cảnh về nước do Tổng cục Hải quan ban hành
Công văn 5227/TCHQ-KTTT về xử nợ thuế đối với chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn về nước do Tổng cục Hải quan ban hành
- Số hiệu: 5227/TCHQ-KTTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 01/09/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Nguyễn Văn Cẩn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/09/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
