Tổng quan về Công văn 5165/TCT-CS
Công văn 5165/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng tràm và bạch đàn. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp, giúp xác định đúng thuế suất GTGT áp dụng cho từng khâu từ khai thác đến thương mại và chế biến.
Phân loại mặt hàng tràm và bạch đàn trong quản lý thuế
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, mặt hàng cây tràm và cây bạch đàn sau khi khai thác (đã được chặt hạ, cắt khúc, lột vỏ hoặc xẻ dọc nhưng chưa qua chế biến thành sản phẩm khác) được xác định là sản phẩm lâm nghiệp chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới chỉ qua sơ chế thông thường. Việc phân loại này là cơ sở pháp lý cốt lõi để áp dụng các chính sách ưu đãi thuế GTGT liên quan.
Chính sách thuế GTGT áp dụng theo từng khâu lưu thông
Thuế suất thuế GTGT đối với mặt hàng tràm và bạch đàn chưa chế biến hoặc mới chỉ sơ chế thông thường được áp dụng cụ thể theo từng trường hợp như sau:
- Khâu tự khai thác và bán ra: Sản phẩm tràm và bạch đàn do các tổ chức, cá nhân trực tiếp khai thác và bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng.
- Khâu kinh doanh thương mại giữa các doanh nghiệp, hợp tác xã: Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi bán mặt hàng tràm, bạch đàn cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Trên hóa đơn GTGT, dòng thuế suất và tiền thuế GTGT không ghi và phải gạch chéo.
- Khâu bán cho các đối tượng khác: Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bán mặt hàng tràm, bạch đàn cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoặc các tổ chức, cá nhân khác không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất là 5%.
- Khâu thương mại do hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện: Hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp khi bán mặt hàng tràm, bạch đàn ở khâu thương mại thì thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT theo tỷ lệ % trên doanh thu theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Thuế suất đối với sản phẩm tràm và bạch đàn đã qua chế biến
Đối với các sản phẩm được sản xuất từ gỗ tràm và gỗ bạch đàn đã qua chế biến sâu (ví dụ như dăm gỗ, ván bóc, ván ghép thanh, đồ gỗ nội thất hoặc các thành phẩm lâm nghiệp khác), các sản phẩm này không còn được coi là sản phẩm sơ chế thông thường. Do đó, mức thuế suất thuế GTGT áp dụng thống nhất là 10% ở tất cả các khâu từ sản xuất, gia công cho đến thương mại bán ra.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5165/TCT-CS | Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2009 |
| Kính gửi: | - Cục Thuế tỉnh Bến Tre; |
Trả lời công văn số 580/CT-THNVDT ngày 8/9/2009 của Cục thuế tỉnh Bến Tre và công văn số 02/2009-CT ngày 13/9/2009 của Công ty TNHH Mai Anh về thuế suất thuế GTGT mặt hàng tràm và bạch đàn, Tổng cục Thuế hướng dẫn áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật như sau:
Tại Điểm 1 Mục II phần A Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn đối tượng không chịu thuế GTGT bao gồm: "Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thuỷ sản... chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua cơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra".
Tại Điểm 2.5, Điểm 2.7 Mục II phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC nêu trên hướng dẫn thuế suất 5% áp dụng đối với:
"Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua cơ chế làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, tách hạt, cắt lát, ướp muối, bảo quản lạnh và các hình thức bảo quản thông thường khác ở khâu kinh doanh thương mại";
"Thực phẩm tươi sống; lâm sản chưa qua chế biến ở khâu kinh doanh thương mại, trừ gỗ, măng và các sản phẩm quy định tại Điểm 1 Mục II phần A Thông tư này...
Lâm sản chưa qua chế biến bao gồm các sản phẩm từ rừng tự nhiên khai thác thuộc nhóm: song, mây, tre, nứa, luồng, nấm, mộc nhĩ; rễ, lá, hoa, cây làm thuốc, nhựa cây và các loại lâm sản khác".
Tại Điểm 3 Mục II phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC nêu trên hướng dẫn: "Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không được quy định tại Mục II, phần A; Điểm 1, 2 Mục II, Phần B Thông tư này".
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, cây bạch đàn và cây tràm do tổ chức, cá nhân tự trồng bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Cây bạch đàn và cây tràm (cây chưa được khai thác hoặc cây đã được khai thác nhưng chưa được cưa xẻ thành gỗ) ở khâu kinh doanh thương mại áp dụng thuế suất 5%. Mặt hàng gỗ bạch đàn, gỗ tràm bán ra áp dụng thuế suất 10%.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bến Tre và Công ty TNHH Mai Anh được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 5165/TCT-CS về thuế suất thuế giá trị gia tăng mặt hàng tràm và bạch đàn do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 5165/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 17/12/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 17/12/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
