Tổng quan về Công văn 5056/TCT-CS giải đáp vướng mắc về chính sách thuế
Công văn 5056/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách thuế của doanh nghiệp và các chi cục thuế địa phương. Văn bản tập trung làm rõ các quy định liên quan đến thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và việc quản lý, sử dụng hóa đơn điện tử trong các giao dịch đặc thù như chuyển nhượng dự án đầu tư.
Chính sách thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư
Một trong những nội dung trọng tâm của công văn là hướng dẫn chi tiết về đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT khi thực hiện chuyển nhượng dự án:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện chuyển nhượng dự án đầu tư cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác nhằm mục đích tiếp tục sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
- Trường hợp bên nhận chuyển nhượng là cá nhân, hộ kinh doanh hoặc các tổ chức không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã thì hoạt động chuyển nhượng này vẫn phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo thuế suất quy định.
- Dự án đầu tư được chuyển nhượng phải đảm bảo tính pháp lý, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư.
Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án đầu tư mở rộng
Tổng cục Thuế đưa ra các hướng dẫn cụ thể nhằm tháo gỡ vướng mắc về điều kiện áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với các dự án đầu tư mở rộng, phân kỳ đầu tư:
- Doanh nghiệp có dự án đầu tư đang hoạt động thực hiện đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất hoặc đổi mới công nghệ sản xuất nếu đáp ứng các tiêu chí quy định tại Luật Thuế TNDN thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế theo dự án đang hoạt động hoặc theo dự án đầu tư mở rộng cho thời gian còn lại.
- Việc xác định ưu đãi thuế TNDN phải được tính toán dựa trên số liệu hạch toán riêng biệt của phần thu nhập tăng thêm từ hoạt động đầu tư mở rộng. Trường hợp không hạch toán riêng được, doanh nghiệp phải phân bổ theo tỷ lệ quy định của pháp luật thuế.
- Tiến độ giải ngân vốn đầu tư thực tế và việc đưa tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ sở quan trọng để cơ quan thuế kiểm tra, xác định điều kiện hưởng ưu đãi.
Quy định về lập hóa đơn và quản lý thuế
Văn bản nhấn mạnh trách nhiệm tuân thủ quy định về hóa đơn, chứng từ của người nộp thuế trong quá trình thực hiện các giao dịch:
- Thời điểm lập hóa đơn điện tử đối với hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng dự án, tài sản giữa hai bên, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
- Đối với các trường hợp chuyển nhượng dự án thuộc diện không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT, doanh nghiệp vẫn phải lập hóa đơn điện tử, trên hóa đơn ghi rõ dòng thuế suất là không kê khai, tính nộp thuế GTGT.
- Cơ quan thuế địa phương có trách nhiệm tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hồ sơ khai thuế, hồ sơ chuyển nhượng dự án để đảm bảo tính trung thực, ngăn chặn các hành vi lợi dụng chính sách để trốn thuế hoặc hoàn thuế sai quy định.
Ý nghĩa và hướng dẫn áp dụng thực tế
Công văn 5056/TCT-CS là tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật thuế trên toàn quốc. Các doanh nghiệp cần chủ động rà soát tình hình thực tế của đơn vị, đối chiếu với các điều kiện hướng dẫn tại công văn này để thực hiện kê khai, nộp thuế và sử dụng hóa đơn đúng quy định, hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý và xử phạt hành chính về thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5056/TCT-CS | Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2010 |
| Kính gửi: | Liên chi hội nuôi trồng thuỷ sản nước lợ huyện Tiên Lãng. |
Trả lời công văn số 02/CV-LCH ngày 20/10/2010 của Liên chi hội nuôi trồng thuỷ sản nước lợ huyện Tiên Lãng về việc giải đáp chính sách thuế chưa thoả đáng của Cục Thuế thành phố Hải Phòng. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về quyền được sử dụng đất khi Nhà nước có Quyết định thu hồi đất
- Tại Điều 39, Luật đất đai số 13/2003/QH11 về đất đâi quy định về thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng quy định như sau:
“1. Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
2. Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.
3. Sau khi có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, được công bố công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất.
Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi đất thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại”.
- Tại Khoản 7, Điều 107, Luật đất đai số 13/2003/QH11 về đất đai quy định nghĩa vụ chung của người sử dụng đất quy định như sau: “Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất”.
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Nhà nước đã có quyết định thu hồi đất thì người bị thu hồi đất phải chấp hành quyết định, bàn giao đất cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không có quyền sử dụng đất kể từ ngày quyết định thu hồi đất của Nhà nước có hiệu lực.
2. Nghĩa vụ thuế đối vối công dân từ khi nhận được thông báo dừng đầu tư, Quyết định thu hồi đất
- Tại Điều 1, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993 quy định như sau:
“Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế).
Hộ được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp”.
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp công dân nhận được Quyết định dừng đầu tư, Quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền và đã làm thủ tục bàn giao lại đất theo quy định của pháp luật thì công dân không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính kể từ ngày Quyết định có hiệu lực. Trường hợp công dân đã nhận được Quyết định dừng đầu tư, Quyết định thu hồi đất nhưng chưa làm hoặc không làm thủ tục bàn giao đất cho cơ quan có thẩm quyền, vẫn sử dụng vào sản xuất, kinh doanh là vi phạm quy định của pháp luật về sử dụng đất đai đồng thời, công dân phải kê khai và thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế trả lời để Liên chi hội nuôi trồng thuỷ sản nước lợ huyện Tiên Lãng được biết./.
|
Nơi nhận: | KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 5056/TCT-CS giải đáp vướng mắc về chính sách thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 5056/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 13/12/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Vũ Thị Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 13/12/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
