Tóm tắt Công văn 4997/TCT-DNL năm 2015 về chi phí Li-Xăng và hỗ trợ khách hàng
Công văn 4997/TCT-DNL do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn các cục thuế địa phương và doanh nghiệp thống nhất thực hiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các khoản chi phí liên quan đến bản quyền (Li-xăng) và chi phí hỗ trợ khách hàng. Đây là những hướng dẫn quan trọng giúp doanh nghiệp xác định đúng đắn các khoản chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, tránh các rủi ro pháp lý và truy thu thuế phát sinh trong quá trình thanh tra, kiểm tra.
- Quy định về điều kiện tính vào chi phí được trừ đối với chi phí Li-xăng (Bản quyền)
- Tính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh: Khoản chi phí quyền sử dụng nhãn hiệu, công nghệ hoặc sở hữu trí tuệ (chi phí Li-xăng) phải trực tiếp phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo ra doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.
- Hồ sơ, chứng từ pháp lý đầy đủ: Doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc hợp đồng li-xăng được ký kết hợp pháp giữa các bên. Hợp đồng phải quy định rõ phạm vi, đối tượng chuyển giao, mức phí và phương thức thanh toán.
- Hóa đơn và chứng từ thanh toán: Phải có hóa đơn hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đối với các khoản thanh toán có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT), doanh nghiệp bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
- Nghĩa vụ thuế nhà thầu nước ngoài: Trường hợp doanh nghiệp nhận chuyển giao quyền sử dụng từ tổ chức, cá nhân nước ngoài (không hoạt động theo Luật Doanh nghiệp tại Việt Nam), doanh nghiệp có nghĩa vụ khấu trừ, khai và nộp thuế nhà thầu nước ngoài (bao gồm thuế GTGT và thuế TNDN đối với thu nhập từ bản quyền) trước khi tính khoản chi này vào chi phí được trừ.
- Quy định về tính vào chi phí được trừ đối với chi phí hỗ trợ khách hàng
- Mục đích của khoản chi hỗ trợ: Các khoản chi hỗ trợ khách hàng (như hỗ trợ chi phí quảng cáo, trưng bày sản phẩm, hỗ trợ đạt doanh số, hoặc các chương trình khuyến mại, chiết khấu thương mại) phải nhằm mục đích thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp.
- Sự ràng buộc bằng văn bản: Khoản chi hỗ trợ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý hoặc các chính sách, chương trình hỗ trợ khách hàng được phê duyệt bằng văn bản của cấp có thẩm quyền trong doanh nghiệp trước khi thực hiện.
- Chứng từ nghiệm thu và thanh toán: Doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chứng minh việc khách hàng đã thực hiện đúng các cam kết để nhận hỗ trợ (như biên bản nghiệm thu chương trình, bảng kê danh sách khách hàng nhận hỗ trợ, chứng từ chi tiền hoặc chứng từ cấn trừ công nợ hợp pháp).
- Tuân thủ pháp luật chuyên ngành: Đối với các khoản hỗ trợ mang tính chất khuyến mại, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các thủ tục đăng ký hoặc thông báo với Sở Công Thương/Bộ Công Thương theo quy định của pháp luật về thương mại.
- Nguyên tắc hạch toán và lưu ý khi quyết toán thuế TNDN
- Nguyên tắc phù hợp: Các khoản chi phí Li-xăng và hỗ trợ khách hàng phải được hạch toán đúng kỳ phát sinh doanh thu tương ứng. Doanh nghiệp không được tự ý phân bổ chi phí vượt quá thời hạn quy định trong hợp đồng hoặc hướng dẫn của chuẩn mực kế toán.
- Trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp: Khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ, sổ sách kế toán để chứng minh tính hợp lý, hợp pháp của các khoản chi nêu trên. Trường hợp không cung cấp đủ chứng từ chứng minh, cơ quan thuế có quyền loại bỏ các khoản chi này ra khỏi chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4997/TCT-DNL | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2015 |
Kính gửi: Cục Thuế TP Hồ Chí Minh.
Trả lời công văn số 8684/CT-TT3 của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh về chi phí Li-xăng và chi phí hỗ trợ khách hàng tại Công ty TNHH MTV Thuốc lá Sài Gòn. Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về chi phí Li-xăng:
Về vấn đề này, Bộ Công thương đã có công văn số 10130/BCT-CNN ngày 30/9/2015 trả lời Tổng công ty thuốc lá Sài Gòn, Công ty thuốc lá Sài Gòn về các hợp đồng của Công ty thuốc lá Sài Gòn. Theo đó, Bộ Công thương đã khẳng định: “Hợp đồng Li-xăng nhãn hiệu thứ cấp ký giữa Công ty thuốc lá Sài Gòn và BATM và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp giữa Tổng công ty thuốc lá Việt Nam và Công ty thuốc lá Sài Gòn chịu sự điều chỉnh của Luật sở hữu trí tuệ, do đó không phải là hợp đồng nhượng quyền thương mại và không phải tiến hành việc đăng ký theo quy định tại Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ”.
Tổng cục Thuế đề nghị Cục Thuế TP Hồ Chí Minh nghiên cứu ý kiến của Bộ Công Thương tại văn bản nêu trên để xem xét lại các nội dung liên quan đến chi phí li-xăng tại Biên bản Thanh tra, Kết luận Thanh tra tại Công ty Thuốc lá Sài Gòn cho phù hợp với quy định của Pháp luật.
2. Về chi phí hỗ trợ:
Theo tài liệu báo cáo về chi phí hỗ trợ khách hàng của Công ty Thuốc lá Sài Gòn cho thấy:
- Đối với khách hàng là đại lý cấp I: nếu khách hàng mua đạt đến 1 sản lượng nhất định thì sẽ được nhận một khoản tiền hỗ trợ nhất định tính trên sản lượng. Ví dụ: Công ty Phú Thịnh Khánh Hòa tiêu thụ đạt 900.000 bao/tháng thì được hỗ trợ là 130 đồng/bao.
- Đối với khách hàng là đại lý cấp II: Công ty căn cứ vào báo cáo của đại lý cấp I về số lượng chủng loại tồn kho của đại lý cấp II để làm căn cứ chi hỗ trợ hàng tồn kho nhằm đảm bảo luôn có đủ lượng hàng để cung ứng ra thị trường. Khách hàng cấp II là khách hàng mua sản phẩm của Công ty thuốc lá Sài Gòn cấp 1 với số lượng lớn. Công ty có chương trình hỗ trợ tiền dựa trên sản lượng các sản phẩm mà khách hàng nhận của khách hàng cấp I.
- Chi phí mời hút thử: khi có sản phẩm mới để đánh giá chất lượng sản phẩm, xin ý kiến đóng góp của khách hàng trước khi đưa ra thị trường.
Như vậy, việc hỗ trợ khách hàng của Công ty Thuốc lá Sài Gòn là để phát triển thị trường, quản lý chăm sóc hệ thống phân phối, đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm không liên quan đến công tác tài trợ quảng cáo hình ảnh, khuyến mại sản phẩm (trừ Chi phí mời hút thử), không thuộc các hành vi bị cấm theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 9 Luật phòng chống tác hại thuốc lá.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật và thực tế chi hỗ trợ bán hàng nêu trên của Công ty TNHH MTV Thuốc lá Sài Gòn thì khoản hỗ trợ chi phí không phải là hoạt động khuyến mại nên Công ty không phải đăng ký với Sở Công thương theo quy định tại Điều 15- Nghị định 37/2006/NĐ-CP ngày 04/04/2006 của Chính phủ quy định, khoản chi hỗ trợ này được xác định là khoản chi được trừ khi xác định thu nhập doanh nghiệp. Còn khoản chi phí mời hút thử là hành vi bị cấm theo quy định của Luật phòng chống tác hại thuốc lá, là khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế TP Hồ Chí Minh được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn số 399/TCT-DNK của Tổng Cục Thuế về việc xin cứu xét chi phí hỗ trợ khách hàng
- 2Công văn số 4504/TCT-PC về việc đề nghị hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật về thuế với thuốc lá nhập lậu đã bán ra thị trường do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 976/TCT-CS về miễn tiền thuê đất đối với hoạt động phân loại thuốc lá do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 5897/VPCP-V.I năm 2016 phản ánh của Đài truyền hình Việt Nam liên quan đến tiền hỗ trợ thủy lợi phí và hỗ trợ khác ở xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 5Công văn 1117/NHNN-TD năm 2020 về triển khai giải pháp hỗ trợ khách hàng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 1Luật Sở hữu trí tuệ 2005
- 2Công văn số 399/TCT-DNK của Tổng Cục Thuế về việc xin cứu xét chi phí hỗ trợ khách hàng
- 3Nghị định 35/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại
- 4Nghị định 37/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
- 5Công văn số 4504/TCT-PC về việc đề nghị hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật về thuế với thuốc lá nhập lậu đã bán ra thị trường do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 976/TCT-CS về miễn tiền thuê đất đối với hoạt động phân loại thuốc lá do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá 2012
- 8Công văn 5897/VPCP-V.I năm 2016 phản ánh của Đài truyền hình Việt Nam liên quan đến tiền hỗ trợ thủy lợi phí và hỗ trợ khác ở xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 9Công văn 1117/NHNN-TD năm 2020 về triển khai giải pháp hỗ trợ khách hàng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Công văn 4997/TCT-DNL năm 2015 về chi phí Li-Xăng và hỗ trợ khách hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4997/TCT-DNL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 26/11/2015
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đặng Ngọc Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 26/11/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
