Công văn 4848/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đầu tư ra nước ngoài thực hiện đúng nghĩa vụ thuế và áp dụng các biện pháp tránh đánh thuế trùng hai lần.
- Nguyên tắc kê khai và nộp thuế đối với thu nhập từ nước ngoài
- Doanh nghiệp Việt Nam có khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư tại nước ngoài có nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế TNDN đối với khoản thu nhập này theo quy định của pháp luật thuế Việt Nam.
- Khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài phải được gộp chung vào thu nhập chịu thuế của kỳ tính thuế phát sinh tại Việt Nam để tính toán nghĩa vụ thuế TNDN tổng thể của doanh nghiệp.
- Phương pháp khấu trừ thuế đã nộp ở nước ngoài
- Doanh nghiệp được phép trừ số thuế TNDN đã nộp ở nước ngoài (hoặc số thuế được nước ngoài miễn, giảm theo quy định của nước sở tại) vào số thuế TNDN phải nộp tại Việt Nam.
- Số thuế TNDN đã nộp ở nước ngoài được trừ không được vượt quá số thuế TNDN tính theo quy định của Luật Thuế TNDN Việt Nam đối với khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài đó.
- Trường hợp số thuế đã nộp ở nước ngoài cao hơn số thuế phải nộp tại Việt Nam tính theo biểu thuế suất của Việt Nam, doanh nghiệp không được khấu trừ phần thuế chênh lệch vượt quá này vào kỳ tính thuế hiện tại hoặc chuyển sang các kỳ tính thuế tiếp theo.
- Hồ sơ và chứng từ chứng minh để được khấu trừ thuế
- Để được áp dụng cơ chế khấu trừ thuế đã nộp ở nước ngoài, doanh nghiệp phải chuẩn bị và xuất trình đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật thuế.
- Hồ sơ chứng minh thông thường bao gồm: Tờ khai thuế thu nhập ở nước ngoài, chứng từ nộp thuế do cơ quan thuế nước ngoài cấp, xác nhận của cơ quan thuế nước ngoài về số thuế đã nộp, hoặc các tài liệu pháp lý tương đương chứng minh doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế tại nước sở tại.
- Áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA)
- Trong trường hợp Việt Nam và quốc gia nơi doanh nghiệp phát sinh thu nhập đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, các quy định và nguyên tắc khấu trừ thuế, miễn giảm thuế sẽ được ưu tiên thực hiện theo các điều khoản quy định tại Hiệp định đó.
- Doanh nghiệp cần chủ động đối chiếu các quy định cụ thể tại Hiệp định giữa Việt Nam và nước sở tại để thực hiện đúng thủ tục thông báo hoặc áp dụng miễn, giảm thuế theo Hiệp định nhằm tối ưu hóa nghĩa vụ tài chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4848/TCT-CS | Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2009 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Hà Tĩnh
Trả lời công văn số 1027/CT-TTra ngày 25/8/2009 của Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh về việc tính thuế đối với thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở nước ngoài, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về văn bản quy phạm pháp luật áp dụng.
Theo nội dung công văn trình bày thì năm 2008 Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh có thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở nước ngoài các năm từ năm 2004 đến năm 2007. Do đó, việc xác định thu nhập đối với khoản thu nhập từ nước ngoài căn cứ theo văn bản quy phạm pháp quy quy định tại từng thời điểm cụ thể:
- Từ năm 2004 - 2006: áp dụng theo hướng dẫn tại Thông tư số 128/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính.
- Năm 2007: áp dụng theo hướng dẫn tại Thông tư số 134/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính.
2. Về việc xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ ở nước ngoài.
- Tại điểm 13 mục V phần B Thông tư 128/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn:
"Việc xác định thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở nước ngoài phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp căn cứ vào Hiệp định quốc tế về tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết.
Đối với khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ tại nước ngoài mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa ký Hiệp định quốc tế về tránh đánh thuế hai lần thì thu nhập chịu thuế là khoản thu nhập trước khi nộp thuế thu nhập ở nước ngoài. Sau khi đã xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì được trừ số thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài để nộp vào ngân sách Nhà nước. Số thuế đã nộp ở nước ngoài được trừ không vượt quá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp...".
- Tại mục 13 khoản IV phần B Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn khoản thu nhập chịu thuế đối với thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất; kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở nước ngoài như sau:
"Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh tại nước ngoài, thực hiện kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành của Việt Nam, kể cả trường hợp doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập theo quy định của nước doanh nghiệp đầu tư. Mức thuế suất suất thu nhập doanh nghiệp để tính và kê khai thuế đối với các khoản thu nhập từ nước ngoài là 28%, không áp dụng mức thuế suất ưu đãi (nếu có) mà doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đang được hưởng theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.
... Trường hợp khoản thu nhập từ dự án đầu tư tại nước ngoài đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (hoặc một loại thuế có bản chất tương tự như thuế thu nhập doanh nghiệp) ở nước ngoài, khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài hoặc đã được đối tác nước tiếp nhận đầu tư trả thay (kể cả thuế đối với tiền lãi cổ phần), nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuế thu nhập tính theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam. Số thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài được miễn, giảm đối với phần lợi nhuận được hưởng từ dự án đầu tư ở nước ngoài theo luật pháp của nước doanh nghiệp đầu tư cũng được trừ khi xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam...".
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, trường hợp năm 2008 Tổng công ty Khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh có khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở nước Lào từ năm 2004 đến năm 2007 thì Tổng công ty áp dụng căn cứ pháp lý tại từng thời điểm cụ thể trên cơ sở Hiệp định tránh đánh thuế hai lần ký kết giữa Chính phủ hai nước để xác định số thuế TNDN cần phải nộp theo quy định.
Tổng cục Thuế thông báo Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh biết và căn cứ tình hình cụ thể của đơn vị để hướng dẫn theo quy định./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 128/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 134/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 24/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 3Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008
Công văn 4848/TCT-CS thu nhập nhận được từ nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4848/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 24/11/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 24/11/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
