Tóm tắt Công văn 4728/TCT-CS năm 2015 về chính sách tiền sử dụng đất
Công văn 4728/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành ngày 10 tháng 11 năm 2015 hướng dẫn về chính sách thu tiền sử dụng đất đối với các trường hợp giao đất, công nhận quyền sử dụng đất. Đây là văn bản quan trọng giải quyết các vướng mắc thực tế của địa phương trong giai đoạn chuyển tiếp thi hành Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
1. Nguyên tắc xác định tiền sử dụng đất trong giai đoạn chuyển tiếp
- Đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nhưng chưa nộp tiền sử dụng đất, việc xác định nghĩa vụ tài chính được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm có quyết định giao đất hoặc thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ.
- Các trường hợp phát sinh từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở đi (thời điểm Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành) phải áp dụng bảng giá đất và các phương pháp tính tiền sử dụng đất mới theo quy định tại Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.
2. Xử lý nghĩa vụ tài chính đối với đất giao không đúng thẩm quyền
- Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, người sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được xem xét miễn, giảm hoặc khấu trừ tiền sử dụng đất đã nộp theo quy định của pháp luật tùy thuộc vào từng mốc thời gian cụ thể và chứng từ chứng minh việc đã nộp tiền.
- Đối với các trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền từ sau ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, việc thu tiền sử dụng đất được thực hiện theo nguyên tắc sát với giá thị trường tại thời điểm công nhận quyền sử dụng đất để tránh thất thu ngân sách nhà nước.
3. Hướng dẫn về hồ sơ và thủ tục xác định nghĩa vụ tài chính
- Cơ quan thuế địa phương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài nguyên và môi trường để đối chiếu, xác định rõ nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất và thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ của người dân.
- Việc áp dụng các chính sách ưu đãi về miễn, giảm tiền sử dụng đất (như đối với người có công với cách mạng, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) phải căn cứ vào hồ sơ pháp lý đầy đủ và đúng đối tượng theo quy định tại Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.
4. Trách nhiệm tổ chức thực hiện của cơ quan thuế
- Tổng cục Thuế yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các Chi cục Thuế rà soát kỹ lưỡng các hồ sơ đất đai còn tồn đọng, đảm bảo tính đúng, tính đủ tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước.
- Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc vượt quá thẩm quyền giải quyết, các Cục Thuế phải kịp thời báo cáo Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính để được hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết thống nhất trên phạm vi cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4728/TCT-CS | Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2015 |
| Kính gửi: | Ông Nguyễn Trọng Huy |
Trả lời Đơn khiếu nại của ông Nguyễn Trọng Huy về việc chính sách tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 1, Điều 36, Luật Đất đai năm 2003 quy định:
“Điều 36. Chuyển mục đích sử dụng đất
Việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các loại đất quy định tại Điều 13 của Luật này được thực hiện như sau:
1. Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:
a) Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản;
b) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục đích khác;
c) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;
d) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;
đ) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;”
- Tại Khoản 1, Điều 9, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất:
“Điều 9. Thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất ở có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền hoặc do lấn chiếm kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà nay được Nhà nước xét cấp Giấy chứng nhận
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nguồn gốc do lấn, chiếm hoặc đất được giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 07 năm 2014 nhưng nay phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Khoản 9 Điều 210 Luật Đất đai thì phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 3 Nghị định này tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
- Căn cứ Công văn số 2329/CT-QLĐ ngày 9/9/2015 của Cục Thuế tỉnh Thái Bình gửi Chi cục Thuế huyện Hưng Hà về giải quyết vướng mắc khi xác định nghĩa vụ tài chính thì:
+ Ngày 21/11/2004: Ông Nguyễn Trọng Huy được Thôn Điềm, xã Hồng An, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có biên bản giao chuyển quyền sử dụng đất lòng cừ giáp trục đường 226 đến đập ngang cừ thôn Hà để nuôi thả cá thời hạn 20 năm từ ngày 21/11/2004 đến ngày 21/11/2024.
+ Tại Biên bản về việc xử lý chuyển mục đích đất từ đất nông nghiệp sang làm nhà ở không đúng với chính sách hiện hành của ông Nguyễn Trọng Huy ngày 9/7/2005 do UBND xã Hồng An lập thì xử lý vi phạm với số tiền 5.500.000 đồng (thực chất là tiền nộp để nhận giao khoán để sản xuất kinh doanh). Ông Nguyễn Trọng Huy đã nộp tiền cho UBND xã Hồng An tại Phiếu thu ngày 9/7/2005.
+ Tại Tờ trình số 04/TTr-UBND ngày 18/6/2015 của UBND xã Hồng An có xác nhận thửa đất có diện tích 100m2 do ông Nguyễn Trọng Huy đang sử dụng do UBND xã Hồng An cấp trái thẩm quyền để làm nhà ở dưới hình thức giao khoán từ năm 2005. Vì vậy, trường hợp của ông Huy là vi phạm trong trường hợp giao đất trái thẩm quyền.
Căn cứ quy định nêu trên thì pháp luật về đất đai chỉ quy định các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất đều phải được phép của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không có trường hợp “chuyển mục đích sử dụng đất trái thẩm quyền” như của cách hiểu của Ông. Do vậy, căn cứ hồ sơ thì trường hợp Ông sử dụng đất với diện tích 100m2 tại thôn Điềm, xã Hồng An, huyện Hưng Hà từ năm 2005 thuộc trường hợp giao đất trái thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, Điều 9, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ nêu trên. Theo đó, nếu phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế trả lời để ông Nguyễn Trọng Huy được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 1946/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách tiền sử dụng đất, tiền thuê đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 1956/TCT-CS năm 2015 về giải đáp chính sách tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 4658/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách chậm nộp tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật Đất đai 2003
- 2Luật đất đai 2013
- 3Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất
- 4Công văn 1946/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách tiền sử dụng đất, tiền thuê đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 1956/TCT-CS năm 2015 về giải đáp chính sách tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 4658/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách chậm nộp tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 4728/TCT-CS năm 2015 về chính sách tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4728/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/11/2015
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Ngô Văn Độ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/11/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
