Mục đích ban hành và bối cảnh của Công văn 4626/BNG-LPQT
Công văn 4626/BNG-LPQT năm 2019 do Bộ Ngoại giao ban hành nhằm hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của các cơ quan, tổ chức về việc sử dụng thống nhất thuật ngữ liên quan đến điều ước quốc tế trong công tác lập pháp và áp dụng pháp luật. Văn bản tập trung làm rõ việc chuẩn hóa cụm từ viện dẫn điều ước quốc tế giữa Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 và Luật Điều ước quốc tế năm 2016.
Nội dung hướng dẫn thống nhất sử dụng thuật ngữ
Nhằm bảo đảm tính đồng bộ, chính xác của hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ Ngoại giao đã đưa ra các định hướng và phân tích cụ thể về mặt kỹ thuật lập pháp như sau:
- Sự chuyển đổi thuật ngữ qua các thời kỳ luật: Trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, thuật ngữ được sử dụng là “Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Tuy nhiên, đến Luật Điều ước quốc tế năm 2016 (văn bản thay thế Luật năm 2005), thuật ngữ đã được sửa đổi thành “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” (bỏ từ "nước").
- Giá trị pháp lý tương đương: Bộ Ngoại giao khẳng định cả hai cách thể hiện này về mặt bản chất pháp lý đều hàm ý chỉ các điều ước quốc tế mà Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam đã ký kết, gia nhập hoặc phê chuẩn và đang có hiệu lực đối với Việt Nam. Do đó, không có sự khác biệt về nội dung hay nghĩa vụ pháp lý giữa hai cụm từ.
- Nguyên tắc áp dụng trong soạn thảo văn bản mới: Khi xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới, các cơ quan chủ trì soạn thảo cần tuân thủ thuật ngữ chuẩn xác quy định tại Luật Điều ước quốc tế năm 2016, đó là: “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Việc này giúp bảo đảm sự thống nhất trong kỹ thuật trình bày và hệ thống hóa pháp luật.
- Việc xử lý các văn bản pháp luật hiện hành: Các văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước đây có sử dụng cụm từ “Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” vẫn tiếp tục được hiểu và áp dụng bình thường, không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam cũng như hiệu lực thi hành của văn bản đó.
Ý nghĩa đối với công tác xây dựng và thi hành pháp luật
Công văn 4626/BNG-LPQT đóng vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ vướng mắc cho các bộ, ngành, địa phương trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Việc chuẩn hóa tên gọi giúp bảo đảm tính logic, thẩm mỹ về mặt ngôn ngữ lập pháp, đồng thời duy trì sự nhất quán với Luật Điều ước quốc tế năm 2016 – văn bản khung điều chỉnh hoạt động điều ước quốc tế của Việt Nam hiện nay.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NGOẠI GIAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4626/BNG-LPQT | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2019 |
Kính gửi: Văn phòng Chính phủ
Phúc công văn số 9921/VPCP ngày 31/10/2019 của Quý Văn phòng về việc trả lời thư kiến nghị của Công ty vàng trang sức Việt Nam liên quan đến việc sử dụng thống nhất cụm từ “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” và “Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” trong Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 và Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Bộ Ngoại giao có ý kiến như sau:
Qua nghiên cứu rà soát lại hồ sơ xây dựng Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 và Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Bộ Ngoại giao nhận thấy đúng là có sự khác biệt này. Tuy nhiên, sự khác biệt này làm cho văn bản nhất quán, chính xác hơn về kỹ thuật (cụm từ “nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” được sử dụng trong toàn bộ văn bản Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Sự khác biệt này không làm thay đổi ý nghĩa pháp lý, hoặc việc áp dụng, thi hành luật. Kể từ thời điểm Luật năm 2016 có hiệu lực đến nay chưa thấy phát sinh vướng mắc, khó khăn liên quan đến việc chỉnh sửa cụm từ này. Bộ Ngoại giao đã trả lời Công ty Vàng trang sức Việt Nam (văn bản kèm theo).
Bộ Ngoại giao trân trọng trao đổi.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn 378/BNG-LPQT năm 2015 rà soát văn bản pháp luật về đối ngoại, hợp tác quốc tế triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 do Bộ Ngoại giao ban hành
- 2Công văn 810/BNG-LPQT năm 2019 về gửi bản gốc thỏa thuận quốc tế để thực hiện việc xây dựng và khai thác tuyến đường sắt Vũng Áng - Viêng Chăn do Bộ Ngoại giao ban hành
- 3Quyết định 120/QĐ-BNG năm 2021 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao năm 2020
- 4Công văn 1349/BNG-CNV năm 2024 định hướng công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của địa phương trong thời gian tới do Bộ Ngoại giao ban hành
- 1Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005
- 2Công văn 378/BNG-LPQT năm 2015 rà soát văn bản pháp luật về đối ngoại, hợp tác quốc tế triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 do Bộ Ngoại giao ban hành
- 3Luật điều ước quốc tế 2016
- 4Công văn 810/BNG-LPQT năm 2019 về gửi bản gốc thỏa thuận quốc tế để thực hiện việc xây dựng và khai thác tuyến đường sắt Vũng Áng - Viêng Chăn do Bộ Ngoại giao ban hành
- 5Quyết định 120/QĐ-BNG năm 2021 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao năm 2020
- 6Công văn 1349/BNG-CNV năm 2024 định hướng công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của địa phương trong thời gian tới do Bộ Ngoại giao ban hành
Công văn 4626/BNG-LPQT năm 2019 về việc sử dụng thống nhất cụm từ “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” và “Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” trong Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 và Luật Điều ước quốc tế năm 2016 do Bộ Ngoại giao ban hành
- Số hiệu: 4626/BNG-LPQT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 26/11/2019
- Nơi ban hành: Bộ Ngoại giao
- Người ký: Lê Hoài Trung
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 26/11/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
