Giới thiệu về Công văn 4604/BTC-TCT năm 2015
Công văn 4604/BTC-TCT được Bộ Tài chính ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể về chính sách thuế và hóa đơn đối với hoạt động xử lý tài sản thế chấp để gán nợ cho các tổ chức tín dụng. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp và ngân hàng trong quá trình xử lý nợ xấu và chuyển nhượng tài sản bảo đảm.
Chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với tài sản thế chấp gán nợ
Theo hướng dẫn tại Công văn 4604/BTC-TCT và các quy định pháp luật liên quan về thuế GTGT, việc xử lý tài sản thế chấp để gán nợ được quy định như sau:
- Trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT: Tài sản bảo đảm tiền vay của tổ chức, cá nhân không phải là đối tượng chịu thuế GTGT khi chuyển nhượng để thanh toán nợ cho tổ chức tín dụng. Cụ thể, trường hợp người vay bàn giao tài sản thế chấp cho ngân hàng để xử lý thu hồi nợ theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm thì hoạt động này thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
- Điều kiện áp dụng: Việc chuyển nhượng tài sản phải phục vụ trực tiếp cho mục đích thanh toán nghĩa vụ nợ đối với khoản vay tại tổ chức tín dụng. Quy trình xử lý tài sản phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm và xử lý nợ.
Quy định về việc lập hóa đơn khi xử lý tài sản gán nợ
Công văn 4604/BTC-TCT cũng làm rõ trách nhiệm và cách thức lập hóa đơn đối với các bên liên quan trong quá trình bàn giao và xử lý tài sản:
- Trường hợp người có tài sản tự bán tài sản: Nếu tổ chức, cá nhân có tài sản thế chấp tự thực hiện việc bán tài sản dưới sự giám sát của ngân hàng để trả nợ, bên bán phải lập hóa đơn GTGT giao cho người mua theo quy định.
- Trường hợp tổ chức tín dụng nhận bàn giao tài sản để gán nợ: Khi người vay thực hiện bàn giao tài sản thế chấp cho tổ chức tín dụng để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán (gán nợ), hai bên phải lập biên bản bàn giao tài sản và các chứng từ chứng minh việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định.
- Trường hợp tổ chức tín dụng bán đấu giá tài sản: Khi tổ chức tín dụng hoặc cơ quan thi hành án thực hiện bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ, việc xuất hóa đơn và kê khai thuế sẽ thực hiện theo hướng dẫn riêng đối với hoạt động bán đấu giá tài sản bảo đảm.
Trách nhiệm của các bên liên quan
Để đảm bảo việc thực hiện đúng quy định pháp luật, Công văn 4604/BTC-TCT yêu cầu các bên liên quan thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Đối với người vay (bên thế chấp): Có trách nhiệm phối hợp với tổ chức tín dụng trong việc hoàn thiện hồ sơ, thủ tục chuyển giao tài sản và thực hiện nghĩa vụ thuế phát sinh (nếu có) đối với các phần giá trị tài sản nằm ngoài phạm vi bảo đảm nợ.
- Đối với tổ chức tín dụng (bên nhận thế chấp): Có trách nhiệm theo dõi, hạch toán đúng quy định đối với giá trị tài sản nhận gán nợ, đồng thời phối hợp với cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính của bên thế chấp khi xử lý tài sản.
- Đối với cơ quan thuế địa phương: Có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn, đảm bảo việc xử lý tài sản thế chấp để gán nợ được thực hiện đúng bản chất giao dịch và đúng quy định pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4604/BTC-TCT | Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2015 |
| Kính gửi: | - Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk. |
Trả lời công văn số 3252/CT-TTHT ngày 09/12/2014 của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk về xử lý tài sản thế chấp để gán nợ và công văn số 87/MB-HS ngày 26/1/2015 của Ngân hàng TMCP Quân đội về việc vay nợ và thế chấp tài sản giữa Ngân hàng và Công ty CP Đầu tư và Xuất nhập khẩu Cà phê Tây Nguyên, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
- Tại Điều 325 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 quy định Thứ tự ưu tiên thanh toán: "Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định như sau:
1. Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký thì việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng ký;
2. Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà có giao dịch bảo đảm có đăng ký, có giao dịch bảo đảm không đăng ký thì giao dịch bảo đảm có đăng ký được ưu tiên thanh toán;
3. Trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà các giao dịch bảo đảm đều không có đăng ký thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm.”
- Tại Điều 6 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định:
“Điều 6. Thứ tự ưu tiên thanh toán
1. Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo quy định tại Điều 325 Bộ luật Dân sự.
2. Các bên cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản có quyền thoả thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền.
3. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho các bên nhận bảo đảm có cùng thứ tự ưu tiên thanh toán thì số tiền đó được thanh toán cho các bên theo tỷ lệ tương ứng với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”.
- Tại khoản 1, khoản 4 Điều 17 Chương V Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn căn cứ tính thuế thu nhập từ chuyển nhượng
bất động sản quy định:
“1. Thu nhập chịu thuế.
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng doanh thu thu được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản trừ giá vốn của bất động sản và các khoản chi phí được trừ liên quan đến hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
…
4. Trường hợp tổ chức tín dụng nhận giá trị bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì tổ chức tín dụng khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật phải kê khai nộp thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào Ngân sách Nhà nước. Trường hợp bán đấu giá bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay thì số tiền thu được thực hiện thanh toán theo quy định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và kê khai nộp thuế theo quy định. Sau khi thanh toán các khoản trên, số tiền còn lại được trả cho các tổ chức kinh doanh đã thế chấp bất động sản để bảo đảm tiền vay.
Trường hợp tổ chức tín dụng được phép chuyển nhượng bất động sản đã được thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi vốn nếu không xác định được giá vốn của bất động sản thì giá vốn được xác định bằng (=) vốn vay phải trả theo hợp đồng thế chấp bất động sản cộng (+) chi phí lãi vay chưa trả đến thời điểm phát mãi bất động sản thế chấp theo hợp đồng tín dụng cộng (+) các khoản chi phí phát sinh khi chuyển nhượng bất động sản nếu có hóa đơn, chứng từ hợp pháp.”
Căn cứ các quy định nêu trên trường hợp Công ty Cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu Cà phê Tây Nguyên (Công ty) không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản thế chấp là công trình tổng kho ngoại quan tại KCN Hòa Phú, xã Hòa phú, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk cho Ngân hàng TMCP Quân đội để giảm trừ nợ vay theo thỏa thuận 400 tỷ đồng. Công ty không nhận được bất kỳ khoản tiền nào từ ngân hàng khi gán nợ tài sản thế chấp thì Công ty không phải kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp nếu Công ty có phát sinh thu nhập từ xử lý tài sản thế chấp thì Công ty phải kê khai và nộp thuế TNDN theo quy định.
Trường hợp Ngân hàng TMCP Quân đội nhận tài sản đảm bảo để giảm trừ nợ vay cho Công ty Cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu Cà phê Tây Nguyên, Ngân hàng chưa chuyển nhượng bất động sản thì chưa phải kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi Ngân hàng được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật thì Ngân hàng phải kê khai nộp thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào Ngân sách Nhà nước theo quy định.
Bộ Tài chính trả lời để Cục Thuế được biết và đề nghị Cục Thuế căn cứ tình hình thực tế của đơn vị để hướng dẫn đơn vị thực hiện theo đúng quy định của văn bản quy phạm pháp luật.
|
Nơi nhận: | KT.BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn số 8953 TC/TCT ngày 15/08/2002 của Bộ Tài chính về việc vướng mắc về thu thuế đối với việc xử lý tài sản đảm bảo tiền vay
- 2Công văn 6269/TCHQ-TXNK xử lý nợ thuế phát sinh từ tài sản đảm bảo tiền vay do Tổng cục Hải quan ban hành
- 3Công văn 2041/TCT-DNL năm 2014 về chính sách thuế đối với tài sản đảm bảo là bất động sản khi chuyển nhượng, kê khai, nộp thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 5858/TCT-CS năm 2014 về bán tài sản đảm bảo tiền vay do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 514/TTg-KTN năm 2016 xử lý tài sản tại trạm thu phí Hòa Phước sau khi di dời về vị trí mới do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Bộ luật Dân sự 2005
- 2Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
- 3Công văn số 8953 TC/TCT ngày 15/08/2002 của Bộ Tài chính về việc vướng mắc về thu thuế đối với việc xử lý tài sản đảm bảo tiền vay
- 4Công văn 6269/TCHQ-TXNK xử lý nợ thuế phát sinh từ tài sản đảm bảo tiền vay do Tổng cục Hải quan ban hành
- 5Công văn 2041/TCT-DNL năm 2014 về chính sách thuế đối với tài sản đảm bảo là bất động sản khi chuyển nhượng, kê khai, nộp thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Thông tư 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 7Công văn 5858/TCT-CS năm 2014 về bán tài sản đảm bảo tiền vay do Tổng cục Thuế ban hành
- 8Công văn 514/TTg-KTN năm 2016 xử lý tài sản tại trạm thu phí Hòa Phước sau khi di dời về vị trí mới do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Công văn 4604/BTC-TCT năm 2015 về xử lý tài sản thế chấp để gán nợ do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 4604/BTC-TCT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/04/2015
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Đỗ Hoàng Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/04/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
