Giới thiệu về Công văn 4376/TCT-KK năm 2024
Công văn 4376/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành năm 2024 là văn bản hướng dẫn quan trọng gửi đến các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm tháo gỡ các vướng mắc và thống nhất quy trình quản lý thu, nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Văn bản này tập trung vào việc làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên và Môi trường, quy trình tính toán, ban hành thông báo nộp tiền, cũng như xử lý các trường hợp điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định pháp luật hiện hành.
Các nội dung trọng tâm của Công văn 4376/TCT-KK
1. Nguyên tắc xác định nghĩa vụ tài chính về tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
- Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phải được xác định dựa trên quyết định phê duyệt hoặc quyết định điều chỉnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).
- Giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được áp dụng theo quy định tại thời điểm tính toán, đảm bảo phù hợp với khung giá và bảng giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tại địa phương nơi có hoạt động khai thác.
- Các trường hợp thay đổi về trữ lượng, công suất khai thác hoặc thời hạn khai thác đều phải thực hiện điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo đúng trình tự pháp luật trước khi cơ quan Thuế ra thông báo thu nộp mới.
2. Quy trình phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên và Môi trường
- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, xác định các thông số kỹ thuật, trữ lượng, giá tính tiền cấp quyền và chuyển thông tin địa chính, hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính sang cơ quan Thuế.
- Cơ quan Thuế căn cứ vào hồ sơ, quyết định phê duyệt do cơ quan Tài nguyên và Môi trường chuyển đến để thực hiện tính toán số tiền phải nộp, ban hành thông báo nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản gửi đến người nộp thuế.
- Trong quá trình thực hiện, nếu phát hiện sai sót hoặc có sự khác biệt về thông tin giữa các quyết định, cơ quan Thuế phải chủ động phối hợp, gửi văn bản đề nghị cơ quan Tài nguyên và Môi trường rà soát, đính chính hoặc điều chỉnh kịp thời.
3. Quy định về thông báo nộp tiền và thời hạn thanh toán
- Thông báo nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của cơ quan Thuế phải nêu rõ số tiền phải nộp, thời hạn nộp tiền (chia theo từng kỳ hoặc nộp một lần tùy thuộc vào quyết định phê duyệt) và tài khoản ngân sách nhà nước tiếp nhận.
- Người nộp thuế có trách nhiệm nộp tiền đầy đủ, đúng hạn theo thông báo của cơ quan Thuế. Mọi hành vi chậm nộp sẽ bị xử lý phạt chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành.
- Trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn khách quan dẫn đến chậm nộp, quy trình xử lý gia hạn hoặc miễn, giảm (nếu có) phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện được quy định tại Luật Khoáng sản và Luật Quản lý thuế.
4. Xử lý các vướng mắc phát sinh trong thực tế quản lý thu
- Đối với các mỏ khoáng sản có sự thay đổi về quy mô, công suất hoặc bị thu hồi giấy phép khai thác, cơ quan Thuế chỉ thực hiện dừng thu hoặc điều chỉnh số thuế phải nộp sau khi có văn bản quyết định chính thức từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về khoáng sản.
- Hướng dẫn cụ thể về việc hạch toán, quyết toán nguồn thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản vào ngân sách nhà nước theo đúng mục lục ngân sách và phân cấp nguồn thu tại từng địa phương.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Công văn 4376/TCT-KK năm 2024 đóng vai trò là hành lang nghiệp vụ rõ ràng cho các cán bộ thuế tại địa phương, giúp hạn chế tối đa sự chồng chéo, chậm trễ trong khâu luân chuyển hồ sơ giữa các sở, ban ngành. Đồng thời, văn bản này giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản nắm rõ nghĩa vụ tài chính của mình, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng và hạn chế các rủi ro pháp lý liên quan đến nợ đọng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4376/TCT-KK | Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2024 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Kon Tum
Trả lời công văn số 754/CTKTU-KK ngày 20/5/2024 của Cục Thuế tỉnh Kon Tum về việc xử lý tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (sau đây gọi là tiền CQKTKS) đối với Công ty TNHH MTV khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai (mã số thuế 6100613025; sau đây gọi là Công ty), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ quy định tại:
- Điều 77 Luật Khoáng sản ngày 17/11/2010;
- Điều 42 Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản;
- Điều 9 Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền CQKTKS;
- Điểm d khoản 2 Điều 3 Luật Quản lý thuế ngày 13/6/2019;
- Điểm a khoản 3 Điều 13 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế;
- Điểm e khoản 1 Điều 5 và điểm c.2 khoản 1 Điều 25 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế;
- Khoản 2 Điều 1 và Điều 2 Thông tư số 110/2012/TT-BTC ngày 03/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Hệ thống Mục lục ngân sách nhà nước.
Căn cứ các quy định nêu trên, thì:
- Căn cứ quy định tại Luật Khoáng sản, các Nghị định của Chính phủ quy định thi hành nêu trên và báo cáo của Cục Thuế (trong đó có: Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 26/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt tiền CQKTKS quặng sắt xã Mô Rai, huyện Sa Thầy (nay là xã Ia Dal, huyện Ia Drai), tỉnh Kon Tum; Thông báo nộp tiền CQKTKS số 1545/TB-CT ngày 16/3/2016 của Cục Thuế) thì Công ty không phát sinh tiền CQKTKS nộp thừa. Cục Thuế chịu trách nhiệm về việc ban hành Thông báo nộp tiền CQKTKS cũng như hạch toán thu ngân sách nhà nước đối với khoản tiền này theo đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, việc Cục Thuế ban hành Thông báo nộp tiền CQKTKS với số tiền còn phải nộp là 0 đồng do cho bù trừ với số tiền đã nộp cho Sở Tài chính ngay trên Thông báo nộp tiền là chưa phù hợp, bởi: cơ quan Thuế chỉ được thông báo số tiền phải nộp theo Quyết định phê duyệt của Ủy ban nhân dân tỉnh, còn việc xử lý chuyển bù trừ số tiền nộp theo Thông báo của Sở Tài chính với số tiền phải nộp theo Thông báo của cơ quan thuế là thuộc thẩm quyền của Sở Tài chính.
- Số tiền Công ty MTV khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai đã nộp theo Thông báo số 428/TB-STC-CSG ngày 28/02/2013 của Sở Tài chính tỉnh Kon Tum về việc mức thu tạm thời tiền CQKTKS sắt địa điểm xã Mô Rai, huyện Sa Thầy là do Sở Tài chính thu và được Sở báo cáo UBND tỉnh chấp thuận hạch toán vào Tiểu mục thu khác ngân sách, không phải Tiểu mục thu tiền CQKTKS. Cơ quan thuế không quản lý số thu trên Tiểu mục thu khác ngân sách của địa phương, chỉ quản lý số thu trên các Tiểu mục hạch toán các khoản thu do ngành Thuế quản lý. Cục Thuế cũng đã báo cáo Công ty không phát sinh nộp thừa tiền CQKTKS trên hệ thống TMS. Cục Thuế chịu trách nhiệm về việc số liệu tiền CQKTKS nộp thừa thuộc trách nhiệm quản lý thuế của cơ quan thuế theo đúng quy định pháp luật.
Do vậy, cơ quan thuế không có trách nhiệm giải quyết hoàn trả số tiền nộp thừa liên quan cho Công ty, mà thẩm quyền giải quyết thừa thuộc Sở Tài chính. Đề nghị Cục Thuế có văn bản gửi Sở Tài chính để biết và đề nghị Sở căn cứ quy định của Luật NSNN, Luật Quản lý thuế và các văn bản có liên quan trình cấp có thẩm quyền thực hiện hoàn trả số tiền CQKTKS Công ty đã nộp thừa cho Sở (nếu có) theo đúng quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Kon Tum được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 4376/TCT-KK năm 2024 về tiền cấp quyền khai thác khoáng sản do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4376/TCT-KK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 01/10/2024
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đào Ngọc Sơn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/10/2024
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
