Giới thiệu về Công văn 4277/TCT-KK năm 2017
Công văn 4277/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành năm 2017 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho cơ quan thuế các cấp về việc hạch toán các khoản tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. Văn bản này nhằm thống nhất quy trình ghi nhận, theo dõi và xử lý các khoản phạt, tiền chậm nộp trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS), đảm bảo tính chính xác, kịp thời và minh bạch trong công tác quản lý thu ngân sách nhà nước.
Các nội dung cốt lõi về hạch toán khoản tiền phạt vi phạm về thuế
Công văn tập trung hướng dẫn các nguyên tắc và quy trình hạch toán kế toán đối với các khoản tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, cụ thể bao gồm các nội dung sau:
- Nguyên tắc ghi nhận nghĩa vụ phạt: Các khoản tiền phạt vi phạm hành chính về thuế và tiền chậm nộp phạt phải được ghi nhận kịp thời, đầy đủ vào hệ thống ngay khi có quyết định xử phạt của cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Phân loại mục lục ngân sách: Việc hạch toán phải tuân thủ đúng mục lục ngân sách nhà nước hiện hành. Các khoản phạt và tiền chậm nộp phạt được phân loại chi tiết vào các tiểu mục tương ứng để theo dõi riêng biệt với các khoản thuế phải nộp thông thường.
- Xử lý số tiền phạt nộp thừa: Trường hợp người nộp thuế nộp thừa tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, cơ quan thuế thực hiện bù trừ với các khoản nợ thuế, nợ phạt khác hoặc thực hiện thủ tục hoàn trả cho người nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Quy trình hạch toán trên hệ thống quản lý thuế (TMS)
Để đảm bảo dữ liệu đồng bộ và chính xác, Tổng cục Thuế hướng dẫn quy trình hạch toán trên hệ thống TMS như sau:
- Cập nhật quyết định xử phạt: Bộ phận chức năng có nhiệm vụ nhập liệu đầy đủ thông tin từ quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế vào hệ thống TMS, bao gồm số quyết định, ngày ban hành, số tiền phạt, hành vi vi phạm và thời hạn nộp tiền.
- Hạch toán chứng từ nộp tiền: Khi người nộp thuế thực hiện nộp tiền phạt vào kho bạc nhà nước, hệ thống TMS sẽ tự động đối chiếu thông tin chứng từ từ kho bạc truyền sang để hạch toán giảm nghĩa vụ phải nộp của người nộp thuế.
- Theo dõi và đôn đốc thu nợ phạt: Hệ thống tự động tính tiền chậm nộp phạt (nếu có) đối với các quyết định quá hạn chưa nộp, làm cơ sở để cơ quan thuế ban hành thông báo đôn đốc hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định.
Trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp trong công tác hạch toán
Công văn 4277/TCT-KK phân định rõ trách nhiệm của các bộ phận trong cơ quan thuế nhằm đảm bảo việc hạch toán được thực hiện thông suốt và không xảy ra sai sót:
- Bộ phận kê khai và kế toán thuế: Chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm tra, đối chiếu dữ liệu hạch toán, xử lý các sai sót về thông tin chứng từ nộp tiền phạt và thực hiện bù trừ, hoàn trả tiền phạt nộp thừa cho người nộp thuế.
- Bộ phận thanh tra, kiểm tra: Có trách nhiệm chuyển giao kịp thời các quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế cho bộ phận kê khai để cập nhật vào hệ thống, tránh tình trạng chậm trễ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người nộp thuế.
- Bộ phận quản lý nợ: Sử dụng dữ liệu hạch toán trên hệ thống để theo dõi sát sao tình hình nợ phạt, thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi nợ đọng tiền phạt kịp thời vào ngân sách nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4277/TCT-KK | Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2017 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1208/CT-KK ngày 06/7/2017 của Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh về việc hoàn trả tiền lãi cho người nộp thuế. Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 5.b, Điều 2 Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài Chính quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định:
“b) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế có dấu hiệu tội phạm đã chuyển hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã có quyết định khởi tố vụ án mà trước đó người có thẩm quyền xử phạt đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người đã ra quyết định xử phạt phải ra quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa ra quyết định xử phạt thì không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi đó”.
- Tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 24 Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài Chính quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định:
“2. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ xử lý vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để xử lý; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để xử lý...
3... Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế và chuyển tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự”.
- Tại Khoản 2, Điều 6 Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài Chính quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định:
“b) Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn: Phạt 20% số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn. Mức phạt tiền được áp dụng cho người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình và cá nhân theo quy định tại Điều 107 Luật quản lý thuế.
c) Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế: Phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế...”
- Tại Điều 103 Luật quản lý thuế số 78/QH11/2006 ngày 29/11/2006 của Quốc hội quy định:
“Điều 103. Hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế
1. Vi phạm các thủ tục thuế.
2. Chậm nộp tiền thuế.
3. Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn.
4. Trốn thuế, gian lận thuế”.
- Tại Khoản 2, Điều 109 Luật quản lý thuế số 78/QH11/2006 ngày 29/11/2006 của Quốc hội hướng dẫn về thẩm quyền xử phạt vi phạm pháp luật về Thuế quy định:
“2. Đối với hành vi quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật này thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế”.
- Tại Khoản 2, Điều 74 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài Chính hướng dẫn xử lý số thuế nộp thừa, số thuế nộp thiếu sau khi có quyết định giải quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định:
“2. Trường hợp số thuế phải nộp xác định tại quyết định giải quyết khiếu nại cao hơn so với số thuế phải nộp xác định tại quyết định hành chính bị khiếu nại thì người nộp thuế phải nộp đầy đủ số thuế còn thiếu trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại”.
- Tại Khoản 2a, Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài Chính hướng dẫn xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa quy định:
“2. Người nộp thuế có quyền giải quyết số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa theo thứ tự quy định sau:
a) Bù trừ tự động với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ hoặc còn phải nộp của cùng loại thuế...”.
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh thực hiện điều tra tại DNTN Đức Thủy và xác định hành vi vi phạm về thuế của doanh nghiệp là trốn thuế, gian lận thuế. Đây là hành vi vi phạm về thuế ở mức cao hơn mức vi phạm về thuế mà trước đó Cơ quan Thuế khi thực hiện thanh tra tại DNTN Đức Thủy xác định doanh nghiệp có hành vi kê khai sai dân đến thiểu số thuế phải nộp và Cục Thuế tỉnh Hà tĩnh đã ban hành quyết định truy thu và thực hiện phạt vi phạm hành chính. Khi Cơ quan Thuế thực hiện hủy bỏ quyết định số 2100/QĐ-CT ngày 19/6/2016 về việc xử lý vi phạm về thuế qua thanh tra việc chấp hành pháp luật thuế của Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh đối với DNTN Đức Thủy theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh thì số tiền thuế và tiền phạt mà DNTN Đức Thủy đã nộp khi thực hiện quyết định số 2100/QĐ-CT ngày 19/6/2016 được xác định là khoản nộp thừa và được bù trừ với khoản phát sinh phải nộp khi người nộp thuế thực hiện theo kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh về hành vi vi phạm về thuế. Cơ quan Thuế không phải trả tiền lãi đối với số thuế, số tiền phạt mà người nộp thuế đã nộp ngân sách nhà nước khi thực hiện quyết định xử phạt trước đó của cơ quan Thuế.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn số 4337/TCT-PCCS của Tổng cục Thuế về việc hạch toán khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế
- 2Công văn số 3158/TCT-CS về việc hạch toán khoản tiền bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng kinh tế do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn số 1039/TCHQ-KTTT về việc sử dụng tài khoản tạm giữ tiền phạt vi phạm hành chính do Tổng cục Hải quan ban hành
- 4Chỉ thị 13/CT-BCT năm 2017 về tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng do Bộ Công thương ban hành
- 5Công văn 1419/TCT-KK năm 2020 về hạch toán hoàn trả số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản nộp thừa của Công ty Cổ phần Seavina do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Công văn số 4337/TCT-PCCS của Tổng cục Thuế về việc hạch toán khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế
- 2Luật quản lý thuế 2006
- 3Công văn số 3158/TCT-CS về việc hạch toán khoản tiền bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng kinh tế do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn số 1039/TCHQ-KTTT về việc sử dụng tài khoản tạm giữ tiền phạt vi phạm hành chính do Tổng cục Hải quan ban hành
- 5Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 83/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 6Thông tư 166/2013/TT-BTC hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 7Chỉ thị 13/CT-BCT năm 2017 về tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng do Bộ Công thương ban hành
- 8Công văn 1419/TCT-KK năm 2020 về hạch toán hoàn trả số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản nộp thừa của Công ty Cổ phần Seavina do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 4277/TCT-KK năm 2017 về hạch toán khoản tiền phạt vi phạm về lĩnh vực thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4277/TCT-KK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/09/2017
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đào Ngọc Sơn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/09/2017
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
