Ngày 11 tháng 11 năm 2003, Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn số 4145/TCT/NV7 về việc chấn chỉnh công tác quản lý và đôn đốc thu nộp các khoản thu về đất năm 2003. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm đẩy nhanh tiến độ thu ngân sách nhà nước, khắc phục các tồn tại trong quản lý thuế đất và đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách trong những tháng cuối năm 2003.
Đối tượng áp dụng của công văn này bao gồm Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Chi cục Thuế quận, huyện, thị xã cùng các cơ quan tài chính, địa chính và các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai trên phạm vi cả nước.
- Rà soát, phân loại và đôn đốc thu nộp nợ đọng tiền sử dụng đất
- Yêu cầu các Cục Thuế phối hợp chặt chẽ với cơ quan Tài chính, Tài nguyên và Môi trường tại địa phương tiến hành rà soát lại toàn bộ các dự án giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền nhưng chưa thực hiện nộp hoặc chưa nộp đủ tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước.
- Thực hiện phân loại chi tiết các khoản nợ đọng tiền sử dụng đất thành các nhóm cụ thể: nợ có khả năng thu hồi, nợ khó thu do vướng mắc về cơ chế chính sách, hoặc nợ do chưa hoàn thành công tác đền bù giải phóng mặt bằng để từ đó đề xuất phương án xử lý phù hợp cho từng trường hợp.
- Kiên quyết áp dụng các biện pháp đôn đốc, yêu cầu các chủ đầu tư, tổ chức và cá nhân khẩn trương hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai theo đúng thời hạn quy định, không để xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn ngân sách.
- Tăng cường công tác quản lý thu thuế nhà đất và tiền thuê đất
- Chỉ đạo các Chi cục Thuế phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn tiến hành rà soát, đối chiếu và lập bộ thuế nhà đất sát với thực tế, tránh bỏ sót hộ nộp thuế, đặc biệt chú trọng tại các khu đô thị mới, khu dân cư mới hình thành hoặc các khu vực có biến động lớn về đất đai.
- Đối với tiền thuê đất của các tổ chức, doanh nghiệp: Tiến hành kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các quyết định cho thuê đất, hợp đồng thuê đất để xác định chính xác diện tích, đơn giá thuê đất và thời điểm tính tiền thuê đất, đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời vào ngân sách nhà nước.
- Đẩy mạnh thu thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ
- Tập trung lực lượng giải quyết dứt điểm các hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất, hồ sơ kê khai lệ phí trước bạ nhà, đất còn tồn đọng tại cơ quan thuế các cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
- Phối hợp với cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất để kiểm soát chặt chẽ các giao dịch chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn, ngăn chặn các hành vi kê khai giá trị chuyển nhượng thấp hơn giá thực tế nhằm trốn thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.
- Tăng cường phối hợp liên ngành và xử lý nghiêm các vi phạm
- Thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên, hiệu quả giữa cơ quan Thuế với Kho bạc Nhà nước, cơ quan Tài chính và cơ quan Tài nguyên và Môi trường nhằm tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình xác định và thu nộp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai.
- Tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với các trường hợp cố tình chây ỳ, chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất kéo dài, bao gồm cả phương án kiến nghị thu hồi đất đối với các dự án không thực hiện đúng cam kết tài chính với nhà nước.
Công văn 4145/TCT/NV7 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (ngày 11 tháng 11 năm 2003). Các nội dung chỉ đạo tại văn bản này được áp dụng trực tiếp cho công tác quản lý thu thuế, phí và các khoản thu khác từ đất đai trong năm tài chính 2003 và làm cơ sở cho việc chấn chỉnh công tác quản lý thu đất đai trong các năm tiếp theo.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4145/TCT/NV7 | Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2003 |
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương
Công tác quản lý đất đai và thực hiện các khoản thu liên quan đến đất đai những năm gần đây cho thấy: Nhiều khoản thu về đất đai đã phát sinh nhưng chưa được thu nộp đầy đủ vào ngân sách Nhà nước như thu tiền sử dụng đất thông qua đấu giá đã thu nhưng chưa nộp ngân sách; các đối tượng được giao đất có thu tiền nhưng chậm kê khai cơ quan thuế không nắm được. Nợ đọng tiền thuê đất từ các năm trước đây chuyển sang năm 2003 còn tương đối lớn đặc biệt là ở TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Việc quản lý thu thuế nhà đất còn để sót hộ, nhất là các khu vực dân cư mới hình thành, khu giãn dân theo quy hoạch giải tỏa, diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở, đất xây dựng công trình... Việc chuyển quyền sử dụng đất vẫn diễn ra thường xuyên, cơ quan quản lý Nhà nước không nắm được, không thu được thuế chuyển quyền sử dụng đất; việc phối hợp giữa cơ quan Thuế với cơ quan Địa chính nhà đất và UBND xã, phường trong trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn rất chậm. Một số địa phương cơ quan thuế chưa thực sự quan tâm tới công tác thu về đất đai, các đội thuế chưa phối hợp tốt với UBND xã, phường và các ủy nhiệm thu trong việc quản lý đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế theo cụm dân cư dẫn tới không kiểm soát hết nguồn thu từ đất, tình trạng nợ đọng tiền thuê đất, thuế nhà đất kéo dài.
Để đảm bảo thu đúng, thu kịp thời các khoản thu về đất đai (gồm cả nợ đọng các năm trước) của năm 2003 nhằm hoàn thành nhiệm vụ thu theo dự toán tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng hợp báo cáo UBND tỉnh về tình hình quản lý thu liên quan đến đất đai trong 3 năm gần đây (thuế nhà đất, thu cấp quyền sử dụng đất, thuế chuyển quyền, thuê đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp...) đánh giá những mặt mạnh, nhưng điểm còn tồn tại vướng mắc, đồng thời lập kế hoạch phối hợp với các ngành triển khai kiểm tra một số đơn vị nhằm chấn chỉnh công tác quản lý về đất đai chống thất thoát các nguồn thu từ đất đảm bảo đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất với Nhà nước.
- Cục thuế tiếp tục chỉ đạo các Chi cục thuế, các đội thuế trực tiếp kiểm tra, rà soát các hộ dân cư, các tổ chức (chú ý ở những khu dân cư, khu đô thị mới hình thành, khu tái cư...) theo từng cụm tuyến dân cư có sử dụng đất ở, xây dựng công trình theo từng lô đất thuộc diện nộp tiền sử dụng đất và chịu thuế nhà đất nhưng chưa kê khai để đưa vào lập sổ bộ thuế và thu thuế, chú ý các hộ mới đến ở do mua bán, đất đã chuyển mục đích sử dụng sang đất ở đã xây dựng hoặc còn bỏ trống.
Kết hợp thu thuế nhà đất với việc nắm các hộ dân cư có nhà đất cho thuê để ở, để kinh doanh đưa vào quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh dịch vụ.
Phối hợp với cơ quan Địa chính nhà đất đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chú ý các đối tượng có khó khăn để ghi nợ tiền sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cơ sở cho việc quản lý đất đai đến từng hộ sử dụng đất.
- Cải tiến công tác quản lý thu thuế nhà đất ở các xã, phường thông qua chỉ đạo của chính quyền địa phương, sử dụng các ủy nhiệm thu là các tổ chức như: Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội nông dân tham gia công việc này vừa tăng thêm thu nhập cho hội, đồng thời là những người bám sát cơ sở có điều kiện tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước trong đó có chính sách thuế, chính sách đất đai đối với các hộ dân cư trên địa bàn sẽ có hiệu quả hơn.
- Kiểm tra, rà soát các đơn vị sử dụng đất vào sản xuất kinh doanh, thuộc đối tượng thuê đất theo quy định, xác định rõ đối tượng chưa ký hợp đồng thuê đất, diện tích đất đang quản lý, sử dụng, giá đất và số tiền thuê đất từng đơn vị phải nộp. Trường hợp một số địa phương vận dụng hệ số K để tính giá đất, phải có quy định cụ thể của UBND tỉnh, thành phố làm căn cứ áp dụng thống nhất, tránh việc vận dụng tùy tiện trong việc xác định giá đất theo hệ số K.
- Đối với diện tích đất của đơn vị hành chính sự nghiệp, đất an ninh quốc phòng, đất sử dụng vào mục đích công cộng, nếu đơn vị có sử dụng một phần vào sản xuất kinh doanh hoặc cho thuê thì phải kê khai nộp tiền thuê đất đối với phần diện tích đó tương ứng với thời gian sử dụng vào kinh doanh cho đến khi có quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền.
- Có biện pháp đề xuất và kiến nghị với UBND tỉnh, thành phố xử lý đối với các đơn vị cố tình chây ỳ không chấp hành chính sách nộp đúng, nộp đủ tiền thuê đất.
- Đối với các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành Công ty cổ phần, việc thực hiện ưu đãi đầu tư trong đó có tiền thuê đất phải thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư số 98/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, Tổng cục thuế.
- Căn cứ vào thông báo nộp tiền thuê đất hàng năm, các doanh nghiệp đã hạch toán tiền thuê đất vào chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, đó là cơ sở để quyết toán tiền thuê đất và quyết toán thuế hàng năm của doanh nghiệp. Những đơn vị không nộp đầy đủ tiền thuê đất cần có biện pháp để truy thu đối với từng trường hợp cụ thể, không để tình trạng nợ đọng kéo dài.
3- Về thu tiền sử dụng đất và thuế chuyển quyền sử dụng đất:
Việc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo hình thức đấu giá còn chậm, Cục thuế cần phối hợp với các ngành tham mưu giúp UBND cấp tỉnh thực hiện hình thức giao đất cho các tổ chức, cá nhân theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất tránh tiêu cực trong việc giao đất, đảm bảo thu tiền sử dụng đất sát giá thị trường. Tiền sử dụng đất thông qua đấu giá phải nộp hết vào ngân sách Nhà nước. Một số điểm cần chú ý xác định tiền sử dụng đất thông qua đấu giá:
- Trường hợp có chi phí đấu giá, chi phí đền bù thì được trừ các chi phí đó.
- Trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất mà phải đền bù thiệt hại về đất thì được trừ tiền đền bù thiệt hại về đất trên cơ cở được giao loại đất nào thì được trừ tiền đến bù theo loại đất đó, giá đất tính đền bù là giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.
Cục thuế, Chi cục thuế chủ động phối hợp với ngành địa chính nhà đất tăng cường công tác kiểm tra để phát hiện các trường hợp mua bán, chuyển quyền sử dụng đất nhưng cố ý không kê khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất cần có các biện pháp để đảm bảo thu được thuế chuyển quyền sử dụng đất vào năm 2003 và từ 1/1/2004 thực hiện thu thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuê thu nhập cá nhân đối với việc chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất đó. Mọi trường hợp không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất phải được hướng dẫn để người sử dụng đất kê khai hợp pháp hóa quyền sử dụng đất trước khi chuyển quyền, các trường hợp vi phạm cần được xử lý theo các quy định của Luật đất đai.
4- Chấn chỉnh công tác quản lý và đôn đốc thu nộp:
- Trên cơ sở xác định các khoản thu liên quan đến đất đai của từng hộ dân cư, tổ chức, cá nhân, đơn vị trên từng địa bàn, cơ quan thuế thông tin kết quả quản lý thu với chính quyền địa phương để thường xuyên tổ chức kiểm tra nhằm quản lý được mọi tổ chức, cá nhân, đơn vị hộ dân cư có sử dụng đất trên địa bàn phối hợp việc đôn đốc thu nộp đầy đủ, kịp thời số tiền thuế và các khoản thu về đất đai vào ngân sách Nhà nước.
- Rà soát các khoản thu về đất đai còn tồn đọng, phân loại, tham mưu đề xuất và báo cáo UBND tỉnh, thành phố, Tổng cục thuế, Bộ Tài chính để xử lý dứt điểm trong thời gian tới.
- Tổ chức lại lực lượng quản lý và thu nộp các khoản thuế và thu khác liên quan đến đất đai.
+ Tổ chức lại ủy nhiệm thu ở phường, xã theo cơ chế mới là cơ quan thuế ký hợp đồng ủy nhiệm thu với UBND xã, phường và chính quyền địa phương lựa chọn lực lượng thu sao cho hợp lý nhằm nâng cao gắn kết trách nhiệm để thực hiện thu có hiệu quả. Phổ biến học tập những phường, xã tổ chức thu tốt để biểu dương và nhân rộng kịp thời đưa công tác quản lý về đất đai và thu các khoản thu về đất đai đi vào nề nếp.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích về chế độ thu liên quan đến đất đai trên các phương tiện thông tin đại chúng để các đối tượng thuộc diện nộp thuế nhà đất, các khoản thu liên quan đến đất đai hiểu và tự giác thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Tổng cục thuế đề nghị Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai nhiệm vụ này nhằm chấn chỉnh kịp thời tồn tại trong công tác quản lý thu các khoản thu liên quan tới đất đai là cơ sở để thực hiện tốt chính sách thuế sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 1/1/2004 đã được Quốc hội thông qua, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách năm Nhà nước năm 2003 và những năm tiếp theo.
|
| Phạm Duy Khương (Đã ký) |
- 1Thông tư 98/2002/TT-BTC hướng dẫn việc miễn thuế, giảm thuế cho các đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo Nghị định 51/1999/NĐ-CP thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi năm 1998 do Bộ Tài Chính ban hành
- 2Công văn 2828/TCT-CS về vướng mắc trong quản lý các khoản thu liên quan đến đất đai do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 4145/TCT/NV7 của Tổng cục Thuế về việc chấn chỉnh công tác quản lý và đôn đốc thu nộp các khoản thu về đất năm 2003
- Số hiệu: 4145/TCT/NV7
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/11/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/11/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
