Công văn 4077/TCHQ-KTTT do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đồng thời hướng dẫn thống nhất nghiệp vụ kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá hải quan tại các cục hải quan địa phương.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Văn bản áp dụng đối với các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, các chi cục hải quan trực thuộc, công chức hải quan thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trị giá, và các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu gặp vướng mắc về trị giá tính thuế hải quan.
- Nguyên tắc kiểm tra và xác định trị giá tính thuế
- Việc kiểm tra trị giá tính thuế phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tại Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn thi hành như Thông tư 39/2015/TT-BTC, Thông tư 60/2019/TT-BTC.
- Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra trị giá khai báo trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng trị giá giao dịch thực tế, chỉ bác bỏ trị giá khai báo khi có đầy đủ cơ sở bác bỏ theo đúng quy định pháp luật.
- Quá trình kiểm tra phải kết hợp chặt chẽ giữa việc đối chiếu hồ sơ giấy, thông tin khai báo trên hệ thống điện tử và cơ sở dữ liệu trị giá hải quan hiện hành.
- Quy trình xử lý khi có nghi vấn về trị giá khai báo
- Trường hợp mức giá khai báo của doanh nghiệp thấp hơn mức giá tham chiếu tại Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá hoặc thấp hơn thông tin dữ liệu có sẵn, công chức hải quan phải thực hiện nghi vấn và chuyển sang bước tham vấn hoặc kiểm tra sau thông quan.
- Cơ quan hải quan phải thông báo rõ ràng, cụ thể các nghi vấn cho người khai hải quan biết để chuẩn bị hồ sơ, tài liệu giải trình trong quá trình tham vấn.
- Không được tự ý áp đặt trị giá tính thuế khi chưa thực hiện đầy đủ các bước đối thoại, tham vấn và chưa có đủ cơ sở pháp lý để bác bỏ trị giá khai báo của doanh nghiệp.
- Hướng dẫn công tác tham vấn và bác bỏ trị giá khai báo
- Quá trình tham vấn phải được thực hiện dân chủ, khách quan và ghi nhận đầy đủ ý kiến của người khai hải quan vào biên bản tham vấn.
- Chỉ thực hiện bác bỏ trị giá khai báo khi người khai hải quan không giải trình được tính trung thực, khách quan của các chứng từ kèm theo hồ sơ hải quan, hoặc không chứng minh được mối quan hệ đặc biệt giữa người mua và người bán không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch.
- Khi bác bỏ trị giá khai báo, cơ quan hải quan phải xác định trị giá tính thuế mới theo đúng thứ tự các phương pháp xác định trị giá quy định tại thông tư hướng dẫn, không được nhảy cóc phương pháp xác định trị giá.
- Xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu trị giá hải quan
- Các cục hải quan địa phương có trách nhiệm cập nhật kịp thời, đầy đủ thông tin về các lô hàng đã được xác định trị giá, các thông tin thu thập từ doanh nghiệp vào Hệ thống quản lý dữ liệu trị giá hải quan (GTT22).
- Tăng cường công tác rà soát, phát hiện các trường hợp khai báo bất hợp lý để kịp thời bổ sung vào danh mục quản lý rủi ro, tránh thất thu ngân sách nhà nước.
- Sử dụng hiệu quả nguồn thông tin từ các cơ quan thuế nội địa, ngân hàng thương mại và các tổ chức liên quan để xác minh tính xác thực của các giao dịch mua bán quốc tế.
Hiệu lực thi hành: Công văn 4077/TCHQ-KTTT có hiệu lực hướng dẫn thực hiện ngay từ ngày ban hành. Tổng cục Hải quan yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố quán triệt đến từng công chức hải quan làm công tác trị giá để thực hiện thống nhất, đúng quy định, tránh gây phiền hà cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn thu ngân sách.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4077/TCHQ-KTTT | Hà Nội , ngày 31 tháng 8 năm 2004 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH - TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 4077/TCHQ-KTTT NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 2004 VỀ VIỆC VƯỚNG MẮC VỀ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
Kính gửi: Cục Hải quan các Tỉnh Thành phố
Nhằm tháo gỡ một số vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư số 118/2003/TT-BTC ngày 8/12/2003, và đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thực hiện, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện như sau:
1. Đối tượng áp dụng Thông tư số 118/2003/TT-BTC:
Hàng hóa nhập khẩu theo hợp đồng thương mại có giấy chứng nhận xuất xứ thông thường từ các nước ASEAN và nằm trong Danh mục hàng hóa của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN thuộc đối tượng áp dụng Thông tư số 118/2003/TT-BTC, áp dụng cho các tờ khai nhập khẩu đăng ký kể từ 01/9/2004 trở đi.
- Tại thời điểm khai báo người khai hải quan xin nợ C/O trong thời hạn quy định tại Nghị định số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ thì chấp nhận xác định trị giá tính thuế theo Thông tư số 118/2003/TT-BTC. Quá thời hạn xin nợ C/O, người khai hải quan không nộp bổ sung C/O thì cơ quan hải quan xác định lại trị giá tính thuế theo các văn bản có hiệu lực tại thời điểm đăng ký tờ khai áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu không thuộc đối tượng của Thông tư số 118/2003/TT-BTC
- Đối với giấy chứng nhận xuất xứ do Cộng đồng châu Âu cấp cho hàng hóa có xuất xứ từ nước nằm trong đối tượng áp dụng Thông tư số 118/2003/TT-BTC thì cũng được chấp nhận.
- Đối với những hàng hóa nhập khẩu không có C/O, kể cả khi kiểm hóa xác định được xuất xứ (kể cả hàng đã qua sử dụng) thì không thuộc đối tượng áp dụng Thông tư số 118/2003/TT-BTC.
- Đối với các khoản được trừ nhưng tại thời điểm xác định trị giá tính thuế không có số liệu để tách ra thì vẫn phải xác định trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch và không được trừ các khoản đó. Trường hợp không đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch thì chuyển sang phương pháp tiếp theo.
- Đối với tiền bản quyền, phí giấy phép không xác định được tại thời điểm nhập khẩu thì trong thời gian 3 ngày kể từ ngày phát sinh tiền bản quyền, phí giấy phép người khai hải quan phải khai báo bổ sung với cơ quan hải quan.
- Đối với các khoản thuế, phí, lệ phí không được hoàn khi xuất khẩu, các chi phí vận chuyển nội địa nước xuất khẩu mà người mua phải trả thì phải cộng vào trị giá tính thuế.
Đối với trường hợp nhập khẩu đường bộ mà không có vận đơn thì ngày xuất khẩu được xác định là ngày đăng ký tờ khai.
5. Đối với trường hợp chiết khấu, giảm giá bằng hàng hóa:
Việc xác định trị giá tính thuế trong trường hợp chiết khấu giảm giá đã được hướng dẫn tại Thông tư số 118/2003/TT-BTC. Hiện nay đã xuất hiện một số doanh nghiệp lợi dụng quy định này và quy định về hàng hóa bảo hành để gian lận giá (thực tế lô hàng không được hưởng chiết khấu, giảm giá, bảo hành, hoặc việc chiết khấu, giảm giá, bảo hành trái với thông lệ thương mại của mặt hàng, ngành hàng đó nhưng vẫn cố tình tách ra một phần hàng hóa khai báo là số hàng hóa được chiết khấu, giảm giá, bảo hành để trốn thuế). Do vậy, khi xét kiểm tra mức giá khai báo phải chia tổng trị giá lô hàng cho số lượng hàng hóa nhập khẩu thực tế và lấy đơn giá đó để đánh giá mức độ tin cậy trong việc khai báo giá trước khi quyết định chấp nhận trị giá khai báo hay phải tham vấn, kiểm tra sau thông quan.
Đối với các trường hợp nhập khẩu có chiết khấu, giảm giá, bảo hành trong thời gian qua, các Cục Hải quan ra soát để tiến hành tham vấn theo quy định, các trường hợp phức tạp không xác định được ở khâu trị giá thì chuyển bộ phận kiểm tra sau thông quan xem xét xử lý.
Tổng cục Hải quan thông báo để các đơn vị biết và thực hiện.
|
| Đặng Thị Bình An (Đã ký) |
- 1Nghị định 101/2001/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan
- 2Thông tư 118/2003/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 60/2002/NĐ-CP về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại do Bộ Tài chính ban hành
Công văn 4077/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan về việc vướng mắc về trị giá tính thuế
- Số hiệu: 4077/TCHQ-KTTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 31/08/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Đặng Thị Bình An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 31/08/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
