Ngày 14 tháng 10 năm 2016, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Công văn số 3968/LĐTBXH-LĐTL hướng dẫn về chế độ trợ cấp thôi việc đối với người lao động. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình tính toán và chi trả trợ cấp thôi việc, đặc biệt là tại các doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi sở hữu hoặc cổ phần hóa.
Văn bản này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động (đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, tái cơ cấu) và người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động.
- Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định và thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó.
- Thời gian làm việc thực tế bao gồm: thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề; thời gian được cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ lễ, tết, nghỉ hàng năm có hưởng lương và các khoảng thời gian khác được tính là thời gian làm việc theo quy định của pháp luật lao động.
- Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Đối với người lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, doanh nghiệp sau cổ phần hóa có trách nhiệm kế thừa và tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ về lao động. Doanh nghiệp mới phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đối với cả thời gian làm việc ở khu vực nhà nước trước đó mà chưa được nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm.
- Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc cho thời gian làm việc thực tế của người lao động tại doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa được tính vào chi phí của doanh nghiệp hoặc sử dụng nguồn dự phòng về trợ cấp mất việc làm theo quy định tài chính hiện hành.
- Trường hợp người lao động được điều động, thuyên chuyển từ các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập hoặc các doanh nghiệp nhà nước khác sang làm việc tại doanh nghiệp cổ phần hóa trước ngày 01 tháng 01 năm 2009 (thời điểm chưa có bảo hiểm thất nghiệp), nếu khi thuyên chuyển chưa được giải quyết trợ cấp thôi việc thì doanh nghiệp tiếp nhận cuối cùng có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho toàn bộ thời gian làm việc trong khu vực nhà nước của người lao động.
- Đối với các khoảng thời gian làm việc từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 trở đi, quyền lợi về trợ cấp thất nghiệp của người lao động do Quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả, doanh nghiệp không phải tính trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp này.
- Mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng tiền lương. Trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm làm việc; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.
- Tiền lương để làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
Công văn 3968/LĐTBXH-LĐTL có hiệu lực hướng dẫn áp dụng ngay từ ngày ban hành. Văn bản này là cơ sở pháp lý đồng bộ giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của Bộ luật Lao động, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, đồng thời tháo gỡ khó khăn tài chính cho doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi cơ cấu tổ chức.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3968/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2009 |
Kính gửi: Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long
Trả lời công văn số 2268/NHN-TCCB ngày 05/10/2009 của Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
Ông Trần Minh Nhơn làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam từ tháng 11/1994, đến tháng 03/2002 chuyển sang làm việc tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long. Như vậy thời gian chuyển công tác của ông Nhơn sau ngày 01/01/1995 (ngày Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành) thì tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc đối với ông Nhơn trong thời gian làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (từ tháng 11/1994 đến hết tháng 02/2002) là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn 3968/LĐTBXH-LĐTL về việc chế độ trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 3968/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 21/10/2009
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/10/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
