Tổng quan về Công văn 3849/TCT-HTQT năm 2018
Công văn 3849/TCT-HTQT do Tổng cục Thuế ban hành nhằm giải quyết các kiến nghị, vướng mắc liên quan đến chính sách thuế đối với phần lợi tức chuyển về nước từ các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn thực thi các quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với nguồn thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam, đảm bảo tính thống nhất và tránh đánh thuế hai lần.
Nguyên tắc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lợi tức chuyển về nước
Theo hướng dẫn tại Công văn 3849/TCT-HTQT và các quy định pháp luật hiện hành về thuế thu nhập doanh nghiệp, nghĩa vụ thuế đối với khoản lợi tức từ nước ngoài chuyển về Việt Nam được thực hiện theo các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Nghĩa vụ kê khai và nộp thuế: Doanh nghiệp Việt Nam có dự án đầu tư ra nước ngoài khi nhận được khoản lợi tức, lợi nhuận chia từ dự án nước ngoài phải thực hiện kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tại Việt Nam.
- Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế: Thu nhập từ dự án đầu tư nước ngoài được xác định khi doanh nghiệp nhận được khoản lợi nhuận phân phối hoặc khi khoản lợi nhuận này được chuyển về Việt Nam theo quy định của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài.
- Mức thuế suất áp dụng: Khoản thu nhập từ nước ngoài chuyển về phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất phổ thông (hiện hành là 20%), không được hưởng các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như các dự án đầu tư trong nước (trừ trường hợp có quy định đặc biệt khác).
Phương pháp khấu trừ thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài
Để tránh tình trạng đánh thuế trùng hai lần đối với cùng một khoản thu nhập, Công văn 3849/TCT-HTQT làm rõ phương pháp khấu trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp tại nước tiếp nhận đầu tư:
- Trường hợp có Hiệp định tránh đánh thuế hai lần: Nếu Việt Nam và quốc gia tiếp nhận đầu tư đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTAA), việc xác định nghĩa vụ thuế và khấu trừ thuế sẽ tuân thủ theo các điều khoản quy định tại Hiệp định đó. Số thuế đã nộp ở nước ngoài được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam theo nguyên tắc quy định tại Hiệp định.
- Trường hợp không có Hiệp định hoặc theo quy định nội địa: Số thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp Việt Nam đã nộp ở nước ngoài (hoặc được nộp thay) đối với phần lợi nhuận được chia sẽ được khấu trừ vào số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam.
- Giới hạn số thuế được khấu trừ: Số thuế đã nộp ở nước ngoài được khấu trừ tối đa không vượt quá số thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam cho khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài đó.
- Xử lý khoản thuế được miễn, giảm ở nước ngoài: Trường hợp khoản lợi nhuận từ dự án đầu tư nước ngoài được miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư, việc xác định số thuế được khấu trừ tại Việt Nam phải căn cứ vào các điều khoản cụ thể về "biện pháp khấu trừ thuế khoán" (tax sparing) quy định tại Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa hai nước (nếu có).
Hồ sơ và thủ tục chứng minh để được khấu trừ thuế
Để được áp dụng cơ chế khấu trừ thuế đã nộp ở nước ngoài khi chuyển lợi tức về Việt Nam, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ pháp lý theo hướng dẫn, bao gồm:
- Chứng từ nộp thuế tại nước ngoài: Bản sao chứng từ nộp thuế có xác nhận của cơ quan thuế nước ngoài hoặc xác nhận của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tại nước ngoài về số thuế đã nộp.
- Tờ khai quyết toán thuế: Doanh nghiệp phải kê khai chi tiết khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài và số thuế đã nộp ở nước ngoài vào tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp tại Việt Nam.
- Hồ sơ pháp lý liên quan đến dự án đầu tư: Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, quyết định phân phối lợi nhuận của cơ quan có thẩm quyền của dự án tại nước ngoài.
Ý nghĩa và kiến nghị của Tổng cục Thuế tại Công văn 3849/TCT-HTQT
Công văn 3849/TCT-HTQT mang lại những định hướng quan trọng nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp:
- Tháo gỡ vướng mắc thực tế: Giải quyết các kiến nghị cụ thể của doanh nghiệp về việc trùng lặp thuế khi chuyển lợi nhuận từ các quốc gia có cơ chế thuế phức tạp về Việt Nam.
- Tăng cường tính minh bạch: Giúp doanh nghiệp chủ động phương án tài chính, hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ thuế khi thực hiện các hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
- Hoàn thiện chính sách: Làm cơ sở để các cơ quan thuế địa phương áp dụng thống nhất quy định pháp luật, tránh việc giải thích luật khác nhau gây khó khăn cho người nộp thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3849/TCT-HTQT | Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018 |
Kính gửi: Bà Nguyễn Phương Thủy
Địa chỉ: 14C8B Thành Công, Ba Đình, Hà Nội, ĐT: 01667178948
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 9058/VPCP-ĐMDN đề ngày 20/9/2018 của Văn phòng chính phủ chuyển câu hỏi của bà Nguyễn Phương Thủy về thuế khi chuyển lợi tức từ Singapore về Việt Nam. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN: Khoản 3, Điều 2 hướng dẫn về các loại thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn; Điều 10 hướng dẫn về thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn là 5%;
Căn cứ quy định tại Điều 10, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam - Singapore về Tiền lãi cổ phần;
Căn cứ quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 24, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam - Singapore về Loại bỏ việc đánh thuế hai lần:
“a. Khi một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập mà theo những quy định tại Hiệp định này có thể phải chịu thuế tại Xing-ga-po, Việt Nam sẽ cho phép đối tượng đó được khấu trừ vào thuế Việt Nam tính trên thu nhập của đối tượng cư trú đó một khoản tiền tương đương với số tiền thuế nộp tại Xing-ga-po. Trường hợp thu nhập đó là tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của Xing-ga-po trả cho một đối tượng cư trú của Việt Nam mà đối tượng đó là một công ty trực tiếp hay gián tiếp sở hữu không thấp hơn 10 phần trăm vốn cổ phần của công ty thứ nhất, thì số thuế được khấu trừ sẽ tính đến số thuế Xing-ga-po của công ty đó đã nộp trên phần lợi tức dùng để chia tiền lãi cổ phần. Tuy nhiên, số tiền thuế được khấu trừ sẽ không vượt quá phần thuế Việt Nam được tính trước khi cho phép khấu trừ, phân bổ trên phần thu nhập đó.”
Trường hợp bà Nguyễn Phương Thủy là đối tượng cư trú của Việt Nam tham gia góp vốn đầu tư thành lập công ty tại Singapore, bà Nguyễn Phương Thủy phải nộp thuế TNCN tại Việt Nam đối với thu nhập từ đầu tư vốn với thuế suất 5%. Trường hợp bà Thủy đã nộp thuế đối với tiền lãi cổ phần tại Singapore thì bà Thủy sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp ở Việt Nam, tuy nhiên, số thuế được khấu trừ không vượt quá phần thuế TNCN phải nộp tại Việt Nam. Trường hợp bà Thủy không nộp thuế đối với lãi cổ phần tại Singapore, bà Thủy sẽ không được khấu trừ vào số thuế TNCN phải nộp tại Việt Nam.
Tổng cục Thuế thông báo để bà Nguyễn Phương Thủy biết và thực hiện./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 1373/TCT-TNCN năm 2018 về xử lý phản ánh kiến nghị về thuế thu nhập cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 3635/TCT-CS năm 2018 về giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp về khấu trừ thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 3773/TCT-CS năm 2018 trả lời kiến nghị về chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Xing-ga-po
- 2Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 1373/TCT-TNCN năm 2018 về xử lý phản ánh kiến nghị về thuế thu nhập cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 3635/TCT-CS năm 2018 về giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp về khấu trừ thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 3773/TCT-CS năm 2018 trả lời kiến nghị về chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 3849/TCT-HTQT năm 2018 kiến nghị về thuế chuyển lợi tức về Việt Nam do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3849/TCT-HTQT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/10/2018
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Trần Thị Thanh Bình
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/10/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
