Tổng quan về Công văn 357/TCT-TNCN
Công văn 357/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm chi trả cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Văn bản này giúp làm rõ ranh giới giữa khoản thu nhập được miễn thuế và khoản thu nhập phải chịu thuế TNCN, đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế đúng quy định pháp luật.
1. Quy định về khoản trợ cấp thôi việc không chịu thuế TNCN
Theo hướng dẫn tại Công văn 357/TCT-TNCN và các quy định pháp luật liên quan, các khoản trợ cấp sau đây không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động:
- Khoản trợ cấp thôi việc được chi trả đúng theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.
- Mức chi trả trợ cấp thôi việc được xác định dựa trên thời gian làm việc thực tế của người lao động tại doanh nghiệp (trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp) và mức tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc.
- Khoản trợ cấp mất việc làm được chi trả đúng đối tượng và đúng định mức quy định của pháp luật lao động hiện hành.
2. Quy định đối với khoản trợ cấp thôi việc vượt mức quy định
Trường hợp doanh nghiệp chi trả cho người lao động khoản trợ cấp thôi việc cao hơn mức quy định của Bộ luật Lao động thì phần vượt mức này sẽ được xử lý như sau:
- Phần trợ cấp thôi việc chi trả đúng theo quy định của Bộ luật Lao động tiếp tục được miễn thuế TNCN.
- Phần chi vượt mức quy định (khoản hỗ trợ thêm ngoài luật) được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động.
3. Phương pháp khấu trừ thuế TNCN đối với khoản trợ cấp vượt mức
Công văn hướng dẫn cụ thể về cách thức khấu trừ thuế đối với phần thu nhập chịu thuế vượt mức khi chi trả cho người lao động:
- Nếu khoản chi trả vượt mức được thực hiện sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động và có tổng mức chi trả từ 2.000.000 đồng trở lên cho mỗi lần chi trả, doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo thuế suất 10% trên toàn bộ phần vượt mức trước khi thanh toán cho người lao động.
- Trường hợp người lao động chỉ có duy nhất nguồn thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì người lao động có thể làm cam kết (theo mẫu quy định) gửi doanh nghiệp để tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin cam kết.
- Nếu khoản chi trả được thực hiện trong thời gian hợp đồng lao động vẫn còn hiệu lực, khoản thu nhập này sẽ được cộng gộp vào tiền lương, tiền công trong tháng để tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
4. Trách nhiệm của doanh nghiệp và người lao động
Để đảm bảo tuân thủ đúng tinh thần của Công văn 357/TCT-TNCN, các bên cần lưu ý:
- Đối với doanh nghiệp: Cần phân tách rõ ràng giữa phần trợ cấp thôi việc theo luật định và phần hỗ trợ thêm (nếu có) trên chứng từ chi trả và quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Thực hiện kê khai, khấu trừ và nộp thuế TNCN kịp thời đối với phần thu nhập chịu thuế của người lao động.
- Đối với người lao động: Nắm rõ quyền lợi về phần thu nhập được miễn thuế và thực hiện nghĩa vụ quyết toán thuế TNCN cuối năm đối với các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh trong năm theo đúng quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số 357 TCT/TNCN | Hà Nội, ngày 25 tháng 1 năm 2005 |
| Kính gửi: | Ông Eric Chang |
Tổng cục Thuế nhận được văn thư ngày 23/11/2004 của Ông ERIC CHANG về việc chính sách thuế đối với khoản trợ cấp thôi việc, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 42 Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có”.
Căn cứ điểm 4.6 mục I Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 147/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (thuế thu nhập cá nhân) quy định: “Các khoản thu nhập không chịu thuế bao gồm: Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo chế độ Nhà nước quy định”.
Theo quy định trên, trường hợp ông Eric Chang thuộc đối tượng cư trú tại Việt Nam và khoản tiền trợ cấp thôi việc của ông Eric Chang được thanh toán tại Công ty Nestle Việt Nam, mỗi năm làm việc tương đương với nửa tháng lương phù hợp với Bộ luật Lao động thì khoản tiền trợ cấp thôi việc này không chịu thuế thu nhập cá nhân.
Đối với khoản tiền trợ cấp thôi việc do Công ty Nestle Việt Nam thanh toán cho thời gian ông Eric Chang làm việc tại tập đoàn Nestle ở nước ngoài, chỉ được miễn thuế thu nhập cá nhân khi ông Eric Chang có văn bản xác nhận về việc Tập đoàn có chế độ chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động và thời gian làm việc được hưởng trợ cấp thôi việc của ông Eric Chang tại Tập đoàn nhưng ông Eric Chang chưa được nhận trợ cấp thôi việc ở nước ngoài.
Tổng cục Thuế trả lời để Ông Eric Chang biết và thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn 357/TCT-TNCN về thuế thu nhập cá nhân đối với khoản trợ cấp thôi việc do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 357/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/01/2005
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/01/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
