Giới thiệu chung về Công văn 3430/TCT-CS năm 2024
Công văn 3430/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành năm 2024 nhằm giải quyết và hướng dẫn các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách thu tiền thuê đất. Văn bản này tập trung vào việc làm rõ phương pháp xác định đơn giá thuê đất, nguyên tắc áp dụng ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất và các thủ tục hành chính liên quan nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc thực thi pháp luật đất đai và quản lý thuế trên phạm vi cả nước.
Các nội dung cốt lõi về chính sách tiền thuê đất
Nội dung hướng dẫn tại Công văn 3430/TCT-CS xoay quanh các nguyên tắc tài chính đất đai quan trọng sau đây:
- Xác định đơn giá và tính tiền thuê đất: Đơn giá thuê đất phải được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng đất thực tế, thời hạn thuê đất và hình thức thuê đất (thuê đất trả tiền hàng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê). Việc áp dụng bảng giá đất hoặc giá đất cụ thể để tính tiền thuê đất phải tuân thủ đúng thời điểm có quyết định cho thuê đất hoặc thời điểm bàn giao đất thực tế theo quy định của pháp luật.
- Chính sách miễn, giảm tiền thuê đất: Công văn hướng dẫn cụ thể về điều kiện, hồ sơ và thủ tục để người nộp thuế được hưởng ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất. Đặc biệt lưu ý đối với trường hợp miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản, việc xác định thời gian này phải căn cứ vào dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt và không vượt quá thời hạn quy định tối đa.
- Xử lý nghĩa vụ tài chính trong giai đoạn chuyển tiếp: Đối với các dự án có sự thay đổi về quy hoạch, diện tích đất hoặc chuyển tiếp giữa các quy định pháp luật đất đai qua các thời kỳ, công văn đưa ra nguyên tắc áp dụng chính sách giá đất và nghĩa vụ tài chính tại thời điểm có sự thay đổi để đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước và doanh nghiệp.
Hướng dẫn tổ chức thực hiện cho các bên liên quan
Để việc quản lý và thu nộp tiền thuê đất diễn ra minh bạch, đúng quy định, Tổng cục Thuế đưa ra các chỉ đạo cụ thể đối với cơ quan thuế địa phương và người nộp thuế:
- Đối với cơ quan thuế các cấp: Phải chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tại địa phương như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính để luân chuyển hồ sơ địa chính, xác định chính xác các thông tin về thửa đất làm căn cứ tính thuế. Đồng thời, thực hiện kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất để tránh thất thu ngân sách nhà nước.
- Đối với người nộp thuế: Có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ khai tiền thuê đất, hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất đúng thời hạn quy định. Thực hiện nộp tiền thuê đất đầy đủ vào ngân sách nhà nước theo đúng thông báo của cơ quan thuế để tránh phát sinh nợ thuế và tiền chậm nộp.
Ý nghĩa và tác động của Công văn 3430/TCT-CS
Công văn 3430/TCT-CS năm 2024 là công cụ hướng dẫn nghiệp vụ thiết thực, giúp tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý trong việc tính tiền thuê đất tại các địa phương. Việc làm rõ các quy định này không chỉ giúp cơ quan thuế thực hiện đúng chức trách mà còn tạo môi trường kinh doanh minh bạch, giúp các doanh nghiệp chủ động phương án tài chính khi sử dụng đất của nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3430/TCT-CS | Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2024 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Gia Lai
Trả lời công văn số 756/CTGLA-HKDCN ngày 12/04/2024 của Cục Thuế tỉnh Gia Lai về vướng mắc chính sách thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định:
“Điều 7. Xác định tiền thuê đất, thuê mặt nước
2. Tiền thuê đất, thuê mặt nước được thu kể từ ngày có quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trường hợp thời điểm bàn giao đất, mặt nước trên thực địa không đúng với thời điểm ghi trong quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước thì thu tiền thuê đất, thuê mặt nước theo thời điểm bàn giao đất, mặt nước.”
- Tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai quy định:
“Điều 4. Thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính khi nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận hoặc xin chuyển mục đích sử dụng đất, xin giao đất hoặc thuê đất
1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định giao đất hoặc cho thuê đất; trường hợp thời điểm bàn giao đất không đúng với thời điểm ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm bàn giao đất thực tế.”
- Tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định:
“Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP như sau:
3. Bổ sung Điều 5a như sau:
"Điều 5a. Đơn giá thuê đất
1. Trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì đơn giá thuê đất một năm tính bằng 1,5% giá đất theo mục đích sử dụng đất thuê do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành theo quy định của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
Trường hợp giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm cho thuê đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại địa phương để quyết định mức giá cụ thể cho phù hợp...”
Căn cứ quy định trên, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định cho thuê đất; trường hợp thời điểm bàn giao đất không đúng với thời điểm ghi trong quyết định cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm bàn giao đất thực tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.
Trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 23/7/2012 về việc hợp thửa các lô đất đã cho Công ty cổ phần Lâm nghiệp và Xây dựng An Khê thuê để xây dựng Nhà xưởng chế biến gỗ (nguồn gốc và hiện trạng là đất cơ sở chế biến gỗ của Công ty đã được Ủy ban nhân dân tỉnh cho thuê và hiện nay đã xây dựng tường rào bao quanh khu sản xuất, sử dụng ổn định từ trước đến nay không tranh chấp), thời hạn thuê đất là 50 năm kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành và Quyết định số 64/QĐ-UBND thay thế các Quyết định thuê đất cũ thì đề nghị Cục Thuế tỉnh Gia Lai báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai có văn bản trao đổi với Bộ Tài nguyên và Môi trường để được xác định quyết định hợp thửa đất này có phải là quyết định cho thuê đất hay không? Trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường và hồ sơ thực tế để xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất (trong đó có xác định đơn giá thuê đất) đối với Công ty cổ phần Lâm nghiệp và Xây dựng An Khê theo đúng quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Gia Lai biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 3430/TCT-CS năm 2024 về Tiền thuê đất do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3430/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Hoàng Thị Hà Giang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 02/08/2024
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
