Công văn 3358/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong việc xác định đối tượng cư trú đối với cá nhân là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Việc xác định chính xác tình trạng cư trú là căn cứ pháp lý cốt lõi để áp dụng phương pháp tính thuế, thuế suất và các chính sách giảm trừ gia cảnh đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN).
- Tiêu chí xác định cá nhân cư trú tại Việt Nam
Theo quy định pháp luật về thuế TNCN được Tổng cục Thuế hướng dẫn, một cá nhân nước ngoài được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Trong đó, ngày đến và ngày đi được tính là 01 (một) ngày và được xác định căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu.
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp: Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.
- Nguyên tắc xác định cư trú khi có mặt dưới 183 ngày
Công văn 3358/TCT-TNCN nhấn mạnh hướng dẫn đối với trường hợp cá nhân nước ngoài có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (theo hợp đồng thuê nhà từ 183 ngày trở lên) nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế:
- Nếu cá nhân chứng minh được bản thân là đối tượng cư trú của nước khác thì được xác định là cá nhân không cư trú tại Việt Nam.
- Để chứng minh tình trạng cư trú của nước khác, cá nhân phải cung cấp Giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế của nước đó cấp. Giấy chứng nhận này cần được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định để có giá trị pháp lý tại Việt Nam.
- Trường hợp cá nhân không xuất trình được Giấy chứng nhận cư trú của nước khác thì cơ quan thuế sẽ xác định cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam. Khi đó, cá nhân phải thực hiện kê khai và nộp thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập phát sinh toàn cầu.
- Sự khác biệt về nghĩa vụ thuế giữa cá nhân cư trú và không cư trú
Việc phân loại đúng đối tượng cư trú quyết định trực tiếp đến nghĩa vụ thuế của người lao động nước ngoài:
- Đối với cá nhân cư trú: Phạm vi tính thuế là thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam (thu nhập toàn cầu). Thu nhập từ tiền lương, tiền công được tính thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần (từ 5% đến 35%) và được áp dụng các khoản giảm trừ gia cảnh cho bản thân, người phụ thuộc, cũng như các khoản đóng góp bảo hiểm, từ thiện, nhân đạo.
- Đối với cá nhân không cư trú: Phạm vi tính thuế chỉ áp dụng đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam (không phân biệt nơi nhận thu nhập). Thu nhập từ tiền lương, tiền công được tính theo thuế suất toàn phần cố định là 20% và không được áp dụng bất kỳ khoản giảm trừ gia cảnh nào.
- Hồ sơ và tài liệu lưu trữ bắt buộc
Để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế và tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp, cá nhân nước ngoài và tổ chức chi trả thu nhập cần chuẩn bị đầy đủ các chứng từ sau:
- Bản sao hộ chiếu có trang đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh, xuất cảnh của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Việt Nam để chứng minh số ngày có mặt thực tế.
- Hợp đồng thuê nhà hợp pháp tại Việt Nam, ghi rõ thời hạn thuê và mục đích thuê để ở.
- Giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế nước ngoài cấp (nếu thuộc trường hợp chứng minh không cư trú tại Việt Nam).
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3358/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 31 tháng 08 năm 2010 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Trả lời công văn số 4949/CT-TNCN ngày 11/8/2010 của Cục Thuế tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu về việc xác định đối tượng cư trú đối với cá nhân là người nước ngoài, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Khoản 1, Mục I, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
"1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các Điều kiện sau đây:
1.1. Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó, ngày đến được tính là một ngày và ngày đi cũng được tính là một ngày. Ngày đến và ngày đi được xác định căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân đó khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại Điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam..."
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, đối với trường hợp bà Aleinmar Htwe (MST: 3501046628) công tác tại Công ty Dịch vụ Schlumberger Việt Nam từ 01/01/2009 đến 01/3/2010 thì:
Năm 2009, Bà Aleinmar Htwe là cá nhân cư trú ở Việt Nam nên kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch (01/01/2009 đến 31/12/2009).
Năm 2010, kỳ tính thuế được tính từ 01/01/2010 đến 31/ 12/2010, Bà Aleinmar Htwe rời Việt Nam ngày 01/3/2010 nên thời gian ở Việt Nam của Bà chưa đủ 183 ngày. Do đó, năm 2010 Bà được xác định là cá nhân không cư trú ở Việt Nam.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 3358/TCT-TNCN xác định đối tượng cư trú đối với cá nhân là người nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3358/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 31/08/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 31/08/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
