Giới thiệu về Công văn 3293/TCT-CS
Công văn 3293/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế đối với nghiệp vụ thu hồi nợ. Văn bản này giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương trong việc xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phát sinh từ hoạt động thu hồi nợ, mua bán nợ và các dịch vụ liên quan.
- Chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động thu hồi nợ
Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng thuế GTGT đối với các khoản doanh thu phát sinh từ hoạt động thu hồi nợ và mua bán nợ như sau:
- Đối với dịch vụ thu hồi nợ thuê: Hoạt động cung cấp dịch vụ thu hồi nợ cho tổ chức, cá nhân khác là hoạt động dịch vụ thương mại thông thường. Do đó, doanh thu từ phí dịch vụ thu hồi nợ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất thông thường (hiện hành là 10%). Doanh nghiệp thực hiện dịch vụ phải lập hóa đơn GTGT và thực hiện kê khai, nộp thuế theo quy định.
- Đối với hoạt động mua bán nợ: Hoạt động bán nợ của các tổ chức tín dụng hoặc các doanh nghiệp mua bán nợ chuyên nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, nếu phát sinh các khoản phí dịch vụ hỗ trợ, tư vấn liên quan đến mua bán nợ thì các khoản phí này vẫn phải chịu thuế GTGT theo quy định hiện hành.
- Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với nghiệp vụ thu hồi nợ
Về thuế TNDN, văn bản làm rõ cách xác định doanh thu và chi phí được trừ khi tính thuế đối với các khoản nợ thu hồi được:
- Xác định doanh thu tính thuế: Khoản tiền thu hồi được từ các khoản nợ khó đòi đã được xử lý xóa nợ trước đó phải được hạch toán vào thu nhập khác để tính thuế TNDN trong kỳ phát sinh khoản thu nhập này.
- Chi phí liên quan đến thu hồi nợ: Các khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan trực tiếp đến hoạt động thu hồi nợ (như phí dịch vụ trả cho đơn vị thu nợ thuê, chi phí pháp lý, án phí, lệ phí) nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (đối với hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên) thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
- Đối với hoạt động mua bán nợ: Chênh lệch giữa giá trị thu hồi nợ thực tế và giá mua nợ (đối với doanh nghiệp mua nợ) được xác định là thu nhập chịu thuế TNDN. Doanh nghiệp phải kê khai và nộp thuế đối với phần thu nhập chênh lệch này theo quy định.
- Hướng dẫn thực hiện và lưu ý cho doanh nghiệp
Để đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật và tránh rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, các doanh nghiệp cần lưu ý các điểm sau:
- Doanh nghiệp cần phân biệt rõ ràng giữa hoạt động tự thu hồi nợ của chính mình, hoạt động mua bán nợ và hoạt động cung cấp dịch vụ thu hồi nợ thuê để áp dụng đúng chính sách thuế GTGT và TNDN tương ứng.
- Mọi giao dịch liên quan đến thu hồi nợ, đặc biệt là các khoản chi phí thuê ngoài thu hồi nợ, phải được hoàn thiện đầy đủ hồ sơ pháp lý bao gồm hợp đồng dịch vụ, biên bản nghiệm thu, hóa đơn tài chính và chứng từ thanh toán theo đúng quy định của pháp luật về thuế.
- Các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp mua bán nợ cần theo dõi sát sao các khoản nợ đã xử lý rủi ro để kịp thời kê khai thuế khi có phát sinh thu nhập từ việc thu hồi các khoản nợ này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3293/TCT-CS | Hà Nội, ngày 27 tháng 08 năm 2010 |
Kính gửi: Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trả lời công văn số 1102/NHPT-XLN ngày 31/03/2010 về chính sách thuế đối với nghiệp vụ thu hồi nợ và công văn số 2155/NHPT-XLN ngày 2/6/2010 về việc phát hành hóa đơn khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Khoản 3 Điều 3 Chương I Quy chế Quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “Ngân hàng Phát triển được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán; được miễn nộp thuế và các Khoản nộp ngân sách nhà nước đối với hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước; các hoạt động khác phải nộp thuế theo quy định của pháp luật”.
Tại Mục IV Phần B Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn quy định:
“1-Hóa đơn do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành.
…
1.2-Hóa đơn được bán cho tổ chức, cá nhân không tự in được hóa đơn để sử dụng…”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nghiệp vụ thu hồi nợ (bán Khoản nợ phải thu, xử lý tài sản đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ, bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ khi khách hàng bị phá sản, giải thể) đối với các Khoản nợ thuộc hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước theo quy định tại Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg nêu trên thì Ngân hàng Phát triển Việt Nam không phải nộp thuế GTGT đối với doanh thu từ việc thu hồi nợ và không phải nộp thuế TNDN đối với thu nhập thu được từ nghiệp vụ thu hồi nợ nêu trên. Trường hợp khi phát mại tài sản đảm bảo tiền vay mà Ngân hàng Phát triển Việt Nam được quyền xử lý để thu nợ thì Ngân hàng Phát triển Việt Nam lập hóa đơn cho bên mua tài sản theo quy định.
Đối với trường hợp Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nghiệp vụ thu hồi nợ của những Khoản nợ không thuộc hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước, Tổng cục Thuế sẽ có công văn hướng dẫn sau.
Tổng cục Thuế trả lời để Ngân hàng Phát triển Việt Nam biết và liên hệ với cơ quan thuế địa phương để được hướng dẫn cụ thể./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 3293/TCT-CS về chính sách thuế đối với nghiệp vụ thu hồi nợ do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3293/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 27/08/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Vũ Thị Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/08/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
