Công văn số 2937/LĐTBXH-LĐTL được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành ngày 18 tháng 8 năm 2021 nhằm hướng dẫn việc áp dụng các chế độ, chính sách hỗ trợ cho người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, đặc biệt là việc giải quyết tiền lương ngừng việc và các chế độ bảo hiểm liên quan.
Văn bản áp dụng đối với người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên phạm vi cả nước.
Nguyên tắc trả lương ngừng việc cho người lao động
- Việc trả lương ngừng việc được thực hiện nghiêm túc theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Lao động năm 2019.
- Trường hợp người lao động phải ngừng việc do dịch bệnh (bao gồm các trường hợp cách ly y tế, nằm trong khu vực bị phong tỏa, hoặc doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), tiền lương ngừng việc được thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
- Đối với 14 ngày ngừng việc đầu tiên, mức lương ngừng việc không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
- Từ ngày ngừng việc thứ 15 trở đi, tiền lương ngừng việc do hai bên tự thỏa thuận, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp và đời sống của người lao động.
Giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội trong thời gian ngừng việc
- Người lao động ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì cả người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau, thai sản.
- Doanh nghiệp và người lao động được tạo điều kiện thuận lợi để tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định của pháp luật và các nghị quyết hỗ trợ của Chính phủ nếu đủ điều kiện.
Chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng hoặc nghỉ không lương
- Đối với người lao động phải tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương do ảnh hưởng của dịch Covid-19, doanh nghiệp phối hợp với Công đoàn cơ sở và cơ quan bảo hiểm xã hội để lập danh sách, hoàn thiện hồ sơ đề nghị hỗ trợ theo quy định tại Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.
- Các cơ quan chức năng có trách nhiệm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giải quyết nhanh chóng các gói hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người lao động nhằm ổn định đời sống.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý và doanh nghiệp
- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, thanh tra, giám sát việc thực hiện chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp trên địa bàn.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm công khai, minh bạch phương án trả lương ngừng việc và các chế độ hỗ trợ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động, tránh phát sinh tranh chấp lao động tập thể.
Công văn 2937/LĐTBXH-LĐTL có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành (ngày 18 tháng 8 năm 2021) và được áp dụng trong bối cảnh phòng, chống dịch Covid-19 theo các quy định hiện hành của pháp luật lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2937/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 26 tháng 08 năm 2010 |
| Kính gửi: | Công ty Hợp tác đào tạo và Xuất khẩu lao động |
Trả lời công văn số 82/LETCO-TCTH ngày 12/7/2010 của Công ty Hợp tác đào tạo và Xuất khẩu lao động về việc áp dụng chế độ cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Theo quy định tại Điều 32 của Bộ luật Lao động và Điều 7, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động thì người lao động làm việc trong các doanh nghiệp chỉ áp dụng chế độ thử việc (do hai bên thỏa thuận trong Khoảng thời gian nhất định tùy theo từng loại lao động theo quy định của pháp luật), không có chế độ tập sự như đối với cán bộ, công chức khu vực hành chính, sự nghiệp. Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70% mức lương cấp bậc của công việc đó.
2. Theo quy định tại Thông tư số 18/2008/TT-BLĐTBXH ngày 16/9/2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung Thông tư số 12/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30/5/2003 hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ về tiền lương thì một trong các Điều kiện để xét nâng bậc lương hàng năm cho viên chức chuyên môn, nghiệp vụ do Nhà nước quy định là thời gian giữ bậc tối thiểu theo từng ngạch lương (ít nhất 2 năm đối với ngạch cán sự, kỹ thuật viên; 3 năm đối với ngạch từ chuyên viên trở lên). Trong thời gian người lao động nghỉ ốm, nghỉ thai sản theo chế độ do pháp luật lao động quy định, người lao động vẫn được xếp lương theo các bậc lương, hệ số lương để tính các chế độ theo quy định của pháp luật, vì vậy cũng được tính là thời gian giữ bậc lương để xét nâng bậc lương cho người lao động. Tuy nhiên, nội dung này phải được thể hiện trong quy chế nâng bậc lương, ngạch lương của công ty.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Công ty Hợp tác đào tạo và Xuất khẩu lao động được biết.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn 2937/LĐTBXH-LĐTL áp dụng chế độ cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 2937/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 26/08/2010
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 26/08/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
