Tóm tắt Công văn 2841/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty Diesel Sông Công Thái Nguyên
Công văn 2841/TCT-HTQT do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với thu nhập của người lao động Nhật Bản làm việc tại Công ty Diesel Sông Công (DISOCO) thông qua các hợp đồng dịch vụ ký kết với các công ty Nhật Bản. Dưới đây là nội dung chi tiết về các căn cứ pháp lý và kết luận xử lý thuế của Tổng cục Thuế:
1. Quy định về phạm vi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
Theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN, phạm vi xác định thu nhập chịu thuế được phân định rõ ràng theo tình trạng cư trú của người nộp thuế:
- Đối với cá nhân cư trú: Thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.
- Đối với cá nhân không cư trú: Thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.
2. Quy định về nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công theo Hiệp định
Điều 15 của Hiệp định quy định về nguyên tắc đánh thuế đối với thu nhập từ lao động làm công như sau:
- Nguyên tắc chung: Các khoản tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi công việc được thực hiện tại Nước ký kết kia. Nếu công việc được thực hiện tại Nước ký kết kia, số tiền công đó có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
- Điều kiện để miễn thuế tại Nước sở tại: Tiền công do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước thứ nhất (nước cư trú) nếu đáp ứng đồng thời cả 3 điều kiện sau:
- Điều kiện (a): Người nhận tiền công có mặt ở Nước kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian gộp lại không quá 183 ngày trong năm dương lịch liên quan; và
- Điều kiện (b): Chủ lao động hay đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền công lao động không phải là đối tượng cư trú tại Nước kia; và
- Điều kiện (c): Số tiền công không phải là phát sinh tại một cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà người chủ lao động có tại Nước kia.
3. Quy định về Cơ sở thường trú theo Hiệp định
Điều 5 của Hiệp định quy định cụ thể về việc xác định cơ sở thường trú của một xí nghiệp nước ngoài:
- Cơ sở thường trú được hiểu là một cơ sở kinh doanh cố định mà qua đó xí nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình.
- Một xí nghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia nếu xí nghiệp đó thực hiện cung cấp các dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ tư vấn) thông qua người làm công hay những đối tượng khác, với điều kiện các hoạt động đó kéo dài (trong cùng một dự án hoặc hai hay nhiều dự án có liên quan) trong một khoảng thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian hơn 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng liên tục.
4. Kết luận áp dụng chính sách thuế đối với trường hợp của DISOCO
Căn cứ vào các quy định nêu trên, Tổng cục Thuế đưa ra kết luận xử lý cụ thể đối với trường hợp của Công ty Diesel Sông Công Thái Nguyên (DISOCO) như sau:
- Xác định cơ sở thường trú: Các công ty Nhật Bản (GC và Nakagawa) thực hiện việc cung cấp dịch vụ kỹ thuật định kỳ, thường xuyên cho DISOCO theo các hợp đồng dài hạn (Hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa GC và DISOCO kéo dài trong 5 năm; Hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa GC và DISOCO kéo dài 3 năm; Hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa Nakagawa và DISOCO kéo dài 3 năm). Do thời gian thực hiện các hoạt động này vượt quá thời hạn quy định, các công ty Nhật Bản nêu trên đã hình thành cơ sở thường trú tại Việt Nam.
- Nghĩa vụ thuế TNCN của người lao động Nhật Bản: Vì các công ty Nhật Bản đã hình thành cơ sở thường trú tại Việt Nam, điều kiện (c) tại Khoản 2 Điều 15 của Hiệp định đã không được thỏa mãn (do số tiền công phát sinh liên quan đến cơ sở thường trú tại Việt Nam).
- Kết luận cuối cùng: Thu nhập của người lao động Nhật Bản phát sinh từ việc thực hiện Hợp đồng chuyển giao công nghệ và Hợp đồng cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật giữa các công ty Nhật Bản (GC và Nakagawa) với DISOCO sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật thuế nội luật Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2841/TCT-HTQT | Hà Nội, ngày 14 tháng 07 năm 2015 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1254/CT-TNCN ngày 15/5/2015 của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên đề nghị Tổng cục Thuế hướng dẫn về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam - Nhật Bản (sau đây gọi là Hiệp định) đối với thu nhập của các cá nhân người nước ngoài phát sinh tại công ty TNHH Nhà nước MTV Diesel Sông Công (sau đây gọi là DISOCO). Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Điều 1, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế Thu nhập cá nhân quy định:
“Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:
Đối với cá nhân cư trú thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.
Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.”
Điều 15, Hiệp định quy định về nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:
“1. Thể theo quy định tại Điều 16, 18 và 19 các khoản tiền lương tiền công, và các khoản tiền thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó, trừ khi công việc của đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết ký. Nếu công việc làm công được thực hiện như vậy, số tiền công trả cho lao động đó có thể bi đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Mặc dù có những quy định tại khoản 1, tiền công do một đối tượng cư trú của một nước ký kết thu được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước thứ nhất nếu.'
(a) người nhận tiền công có mặt ở Nước kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều thời gian gộp lại không quá 183 ngày trong năm dương lịch liên quan, và
(b) chủ lao động hay đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền công lao động không phải là đối tượng cư trú tại Nước kia, và
(c) số tiền công không phải là phát sinh tại một cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà người chủ lao động có tại Nước kia. “
Điều 5, Hiệp định quy định về cơ sở thường trú như sau:
“1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một cơ sở kinh doanh cố định mà qua đó xí nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình.
4. Một xí nghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia nếu xí nghiệp đó thực hiện tại Nước ký kết kia việc cung cấp các dịch vụ bao gồm cả các dịch vụ tư vấn thông qua những người làm công hay những đối tượng khác với điều kiện các hoạt động đó kéo dài (trong cùng một dự án hay hai hay nhiều dự án có liên quan) trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian hơn 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng liên tục.”
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp các công ty Nhật Bản (GC và Nakagawa) thực hiện việc cung cấp dịch vụ kỹ thuật định kỳ, thường xuyên cho DISOCO theo Hợp đồng kéo dài trong 5 năm (Hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa GC và DISOCO), 3 năm (Hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa GC và DISOCO; Hợp đồng cung cấp dịch vụ giũa Nakagawa và DISOCO) thì các công ty Nhật Bản này đã hình thành cơ sở thường trú tại Việt Nam. Trong trường hợp này, điều kiện (c), Khoản 2, Điều 15 Hiệp định đã không được thỏa mãn. Thu nhập của người lao động Nhật Bản từ việc thực hiện Hợp đồng chuyển giao công nghệ và Hợp đồng cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật giữa các công ty Nhật Bản (GC và Nakagawa) và DISOCO sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam theo quy định của nội luật Việt Nam.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế được biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn số 2108/TCT-HTQT về việc áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Nhật Bản của Công ty TNHH Sumitomo Corporation Việt Nam do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn số 2185/TCT-HTQT về việc áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Hàn Quốc của Công ty Poslilama do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 1248/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty TNHH Kefico Việt Nam do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 4524/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty TNHH CJ Vina Agri do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 1218/TCT-HTQT năm 2016 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Gerbera Precision Việt Nam do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Công văn số 2108/TCT-HTQT về việc áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Nhật Bản của Công ty TNHH Sumitomo Corporation Việt Nam do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn số 2185/TCT-HTQT về việc áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Hàn Quốc của Công ty Poslilama do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 4Công văn 1248/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty TNHH Kefico Việt Nam do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 4524/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty TNHH CJ Vina Agri do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 1218/TCT-HTQT năm 2016 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Gerbera Precision Việt Nam do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 2841/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty Diesel Sông Công Thái Nguyên do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 2841/TCT-HTQT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 14/07/2015
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Trần Thị Thanh Bình
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/07/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
