Công văn 2562/TCT-QLN năm 2020 do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các cơ quan thuế địa phương nhằm đẩy mạnh công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế. Văn bản tập trung vào việc hướng dẫn chi tiết biện pháp cưỡng chế thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ, một trong những biện pháp mạnh mẽ để thu hồi nợ đọng thuế hiệu quả.
- Căn cứ pháp lý và mục đích ban hành
- Biện pháp cưỡng chế thu tiền, tài sản từ bên thứ ba được thực hiện dựa trên các quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
- Mục đích nhằm ngăn chặn tình trạng tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thuế của người nộp thuế thông qua việc gửi tiền, tài sản hoặc ký kết các hợp đồng kinh tế với bên thứ ba.
- Tăng cường hiệu quả thu hồi nợ đọng, giảm thiểu nợ xấu và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước một cách kịp thời.
- Điều kiện áp dụng biện pháp thu tiền thuế nợ từ bên thứ ba
- Cơ quan thuế có thông tin, căn cứ xác thực về việc tổ chức, cá nhân khác (bên thứ ba) đang nắm giữ tiền, tài sản hoặc có khoản nợ đến hạn phải trả cho đối tượng bị cưỡng chế nợ thuế.
- Các biện pháp cưỡng chế trước đó (như trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản, khấu trừ một phần thu nhập) đã được áp dụng nhưng không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được do người nộp thuế không còn tiền trên tài khoản hoặc không có thu nhập.
- Khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba đang nắm giữ phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của đối tượng bị cưỡng chế nợ thuế và có thể định giá, chuyển giao được.
- Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân bên thứ ba đang nắm giữ tiền, tài sản
- Cung cấp thông tin: Khi nhận được yêu cầu bằng văn bản từ cơ quan thuế, tổ chức, cá nhân bên thứ ba có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về số tiền, tài sản hoặc các khoản nợ mà mình đang nắm giữ hoặc nợ đối tượng bị cưỡng chế.
- Thực hiện nộp thay nghĩa vụ thuế: Bên thứ ba không được chuyển trả tiền, tài sản cho đối tượng bị cưỡng chế mà phải nộp trực tiếp vào tài khoản ngân sách nhà nước theo yêu cầu của cơ quan thuế, tối đa bằng số tiền thuế nợ ghi trên quyết định cưỡng chế.
- Trách nhiệm pháp lý khi không chấp hành: Trường hợp bên thứ ba cố tình tẩu tán, chuyển trả tiền, tài sản cho đối tượng bị cưỡng chế sau khi đã nhận được quyết định cưỡng chế thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế và phải chịu trách nhiệm liên đới nộp thay số tiền thuế nợ tương ứng với giá trị tài sản đã chuyển giao trái quy định.
- Quy trình thực hiện của cơ quan thuế
- Xác minh thông tin: Cơ quan thuế tiến hành rà soát, đối chiếu dữ liệu từ các tờ khai thuế, hóa đơn, hợp đồng kinh tế hoặc thông qua công tác thanh tra, kiểm tra để xác định chính xác bên thứ ba đang nắm giữ tiền, tài sản của người nợ thuế.
- Ban hành quyết định cưỡng chế: Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế ban hành Quyết định cưỡng chế thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ. Quyết định này phải được gửi ngay cho bên thứ ba và đối tượng bị cưỡng chế.
- Theo dõi và đôn đốc thu hồi: Cơ quan thuế giám sát chặt chẽ việc thực hiện nộp tiền của bên thứ ba vào ngân sách nhà nước. Trường hợp bên thứ ba không thực hiện đúng thời hạn, cơ quan thuế sẽ áp dụng các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế tiếp theo đối với chính bên thứ ba theo quy định của pháp luật.
- Một số lưu ý quan trọng trong quá trình xử lý
- Việc thu tiền, tài sản từ bên thứ ba chỉ được thực hiện đối với các khoản nợ đã đến hạn thanh toán. Đối với các khoản nợ chưa đến hạn, cơ quan thuế chỉ thực hiện phong tỏa và yêu cầu bên thứ ba không được thanh toán cho đối tượng bị cưỡng chế cho đến khi có quyết định xử lý chính thức.
- Đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, tránh việc áp dụng sai đối tượng hoặc sai lệch về số liệu nợ thuế dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện hành chính.
- Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước và các cơ quan chức năng khác để phong tỏa tài khoản, ngăn chặn kịp thời các giao dịch chuyển tiền trái phép.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2562/TCT-QLN | Hà Nội, ngày 23 tháng 6 năm 2020 |
Kính gửi: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh tỉnh Hà Nam
(Số 52 đường Trần Phú, phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam)
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 220/NHN0.Hna-KHDN ngày 01/04/2020 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh tỉnh Hà Nam về việc thanh toán vốn cho công trình cầu Sáu Nạn và cầu So Đũa do Công ty cổ phần XDCT giao thông 820 thi công. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Ngày 11/12/2019 Tổng cục Thuế đã có công văn số 5192/TCT-QLN gửi Cục Thuế Hà Nam, trong đó nêu rõ thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Đồng thời đề nghị Cục Thuế tỉnh Hà Nam căn cứ quy định của pháp luật và hồ sơ cụ thể để trả lời Ngân hàng.
Thực hiện công văn số 5192/TCT-QLN nêu trên Cục Thuế tỉnh Hà Nam đã có công văn số 4787/CT-QLN ngày 19/12/2019, công văn số 1241/CT-QLN ngày 7/4/2020 trả lời Chi nhánh.
- Điều 4 Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng quy định:
“Điều 4. Nợ xấu
1. Nợ xấu quy định tại Nghị quyết này bao gồm:
a) Khoản nợ được hình thành và xác định là nợ xấu trước ngày 15 tháng 8 năm 2017;
b) Khoản nợ được hình thành trước ngày 15 tháng 8 năm 2017 và được xác định là nợ xấu trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực.
Việc xác định khoản nợ là nợ xấu căn cứ vào Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này. Trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, sửa đổi Phụ lục theo đề nghị của Chính phủ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản khoản nợ là nợ xấu khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại Nghị quyết này.”
- Khoản 1, Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 nêu trên quy định:
“Điều 7. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm
1. Bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo đầy đủ giấy tờ, hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu để xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc trong văn bản khác (sau đây gọi là hợp đồng bảo đảm) và quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Trường hợp bên bảo đảm, bên giữ tài sản không giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu để xử lý thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều này.”
Căn cứ quy định trên, trường hợp Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh tỉnh Hà Nam xác định khoản tiền Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh thanh toán cho Công ty cổ phần XDCT giao thông 820 là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh tỉnh Hà Nam làm việc với Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh và Công ty cổ phần XDCT giao thông 820 để xử lý tài sản bảo đảm theo quy định.
Tổng cục Thuế có ý kiến để Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh tỉnh Hà Nam được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn số 3475/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan về việc xử lý khấu trừ tiền hoàn thuế nhập khẩu từ tài khoản tạm thu vào tiền phạt chậm nộp thuế còn nợ của Công ty Dịch vụ XNK Cà phê II Nha Trang
- 2Công văn 85/TCT-QLN năm 2019 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 85/TCT-QNL năm 2019 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 5258/TCT-QLN năm 2020 về đôn đốc thu tiền thuế nợ do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Quyết định 1796/QĐ-BTC năm 2017 sửa đổi Quy chế xử lý thông tin tổ chức, cá nhân có giao dịch đáng ngờ tại Cơ quan thuế các cấp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 1Công văn số 3475/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan về việc xử lý khấu trừ tiền hoàn thuế nhập khẩu từ tài khoản tạm thu vào tiền phạt chậm nộp thuế còn nợ của Công ty Dịch vụ XNK Cà phê II Nha Trang
- 2Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng do Quốc hội ban hành
- 3Công văn 85/TCT-QLN năm 2019 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 85/TCT-QNL năm 2019 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 5258/TCT-QLN năm 2020 về đôn đốc thu tiền thuế nợ do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Quyết định 1796/QĐ-BTC năm 2017 sửa đổi Quy chế xử lý thông tin tổ chức, cá nhân có giao dịch đáng ngờ tại Cơ quan thuế các cấp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Công văn 2562/TCT-QLN năm 2020 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 2562/TCT-QLN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 23/06/2020
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đỗ Thị Hồng Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/06/2020
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
