Công văn 2491/TM/CA.TBD do Bộ Thương mại ban hành hướng dẫn về việc thanh toán qua biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ thương mại biên giới giữa hai nước, đồng thời tăng cường quản lý nhà nước về ngoại hối và hoạt động thương mại biên mậu.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các thương nhân, doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa và dịch vụ qua biên giới Việt Nam - Campuchia; các ngân hàng thương mại được phép hoạt động ngoại hối; và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan tại khu vực biên giới.
Các phương thức thanh toán qua biên giới
- Thanh toán qua ngân hàng bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi: Đây là phương thức thanh toán ưu tiên áp dụng cho các hợp đồng thương mại chính ngạch. Các doanh nghiệp thực hiện thanh toán bằng các loại ngoại tệ mạnh (như USD) thông qua hệ thống ngân hàng thương mại được phép của hai nước theo thông lệ quốc tế.
- Thanh toán bằng đồng bản tệ (VND và KHR): Khuyến khích việc sử dụng đồng Việt Nam (VND) và đồng Riel Campuchia (KHR) trong thanh toán biên giới nhằm giảm sự phụ thuộc vào ngoại tệ tự do chuyển đổi. Việc thanh toán bằng bản tệ được thực hiện qua các tài khoản mở tại các ngân hàng thương mại vùng biên giới của hai nước.
- Thanh toán bằng phương thức hàng đổi hàng (Barter): Áp dụng đối với các hoạt động trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới và các doanh nghiệp thực hiện xuất nhập khẩu tiểu ngạch. Giá trị hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu phải được quy đổi tương đương và được theo dõi, quyết toán theo quy định của cơ quan hải quan và ngân hàng.
- Thanh toán bằng tiền mặt: Trong các trường hợp đặc biệt và đối với giao dịch quy mô nhỏ (thương mại biên giới, chợ biên giới), việc thanh toán bằng tiền mặt (ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc đồng bản tệ) được chấp nhận nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về hạn mức mang tiền mặt qua biên giới và phải khai báo hải quan đầy đủ.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý và doanh nghiệp
- Sở Thương mại các tỉnh biên giới: Có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng địa phương (Hải quan, Biên phòng, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước) để theo dõi, giám sát hoạt động thương mại biên giới; kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và báo cáo Bộ Thương mại các vướng mắc phát sinh.
- Các doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại: Phải thực hiện đúng các quy định về hợp đồng thương mại, đăng ký tờ khai hải quan đầy đủ và thực hiện nghĩa vụ thuế, thủ tục thanh toán theo đúng hướng dẫn của ngân hàng và cơ quan quản lý ngoại hối.
Hiệu lực thi hành
Công văn 2491/TM/CA.TBD có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trong văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để các địa phương biên giới giáp Campuchia triển khai đồng bộ các biện pháp thúc đẩy giao thương, đảm bảo an toàn pháp lý và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế vùng biên.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ THƯƠNG MẠI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2491/TM/CA.TBD | Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2002 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ THƯƠNG MẠI SỐ 2491 TM/CA.TBD NGÀY 28 THÁNG 6 NĂM 2002 VỀ VIỆC THANH TOÁN BUÔN BÁN QUA BIÊN GIỚI VN-CPC
Kính gửi: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Phúc đáp công văn số 423/CV-QLNH ngày 24/06/2002 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới giữa hai nước Việt Nam - Campuchia, Bộ Thương mại nêu ý kiến như sau:
1. Căn cứ vào Hiệp định mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới Việt Nam và Campuchia, ký ngày 26/11/2001 giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Campuchia, tại Điều 6 Chính phủ hai nước đã đồng ý cho phép hai bên áp dụng:
+ Thanh toán, kết toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới giữa hai nước được thực hiện bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc tiền Đồng Việt Nam hoặc tiền Riel Campuchia.
+ Phương thức thanh toán do các bên mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại tại khu vực biên giới thoả thuận.
Thực tế sau khi Hiệp định này được ký kết, hoạt động thương mại tại khu vực biên giới sôi động hẳn lên, tình hình kinh tế xã hội tại khu vực cửa khẩu biến đổi theo chiều hướng tốt hơn, đời sống dân cư biên giới được cải thiện, hoạt động mua bán trao đổi thương mại diễn ra linh hoạt, sản phẩm hàng hoá của Việt Nam sản xuất được xuất khẩu sang Campuchia ngày càng nhiều cả về số lượng lẫn giá trị hợp đồng. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu/ 2002 tăng 32%, nhập khẩu tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái (là thời điểm chưa ký Hiệp định này) nếu so với tình hình xuất nhập khẩu hiện nay của cả nước thì đây là kết quả đáng phấn khởi.
Tóm lại, phát triển buôn bán biên giới giữa hai nước làm tăng kim ngạch xuất khẩu (Việt Nam xuất siêu sang Campuchia khoảng 80% và nhập khẩu khoảng 20% giá trị xuất nhập khẩu giữa hai nước), xuất khẩu tăng, hàng hoá tiêu thụ được nhiều kéo theo sản xuất hàng hoá phát triển, tăng cơ hội việc làm cho cộng đồng dân cư, thu nhập của các hộ gia đình được nâng cao, góp phần thực hiện nhanh chủ trương xoá đói giảm nghèo của Chính phủ, đồng thời giảm bớt các tệ nạn xã hội và các hoạt động buôn lậu tại khu vực biên giới.
Buôn bán biên giới phát triển còn đẩy nhanh quá trình xây dựng các vành đai kinh tế tại khu vực biên giới, phòng thủ an ninh quốc phòng được xây dựng trên cơ sở kinh tế vùng biên vững mạnh, củng cố và phát triển quan hệ đối ngoại giữa hai nước.
2. Hiệp định này là văn bản quy ước quốc tế đã dược Chính phủ hai nước Việt Nam- Campuchia thống nhất thoả thuận và cho phép hai bên áp dụng theo nội dung các điều khoản ghi trong Hiệp định. Vì thế mọi thay đổi nội dung đều phải được thoả thuận và thống nhất của Chính phủ hai nước.
3. Để nội dung Hiệp định phát huy có hiệu quả và hạn chế những sơ hở, lợi dụng trong quá trình thực hiện thanh toán các hoạt động buôn bán thương mại tại khu vực biên giới giữa hai nước. Bộ Thương mại cho rằng: với chuyên môn và nghiệp vụ của ngành ngân hàng sẽ đề ra các biện pháp quản lý và tổ chức thực hiện theo hướng có lợi nhất, đảm bảo được lợi ích chung của hai bên và tôn trọng các cam kết mang tính quốc tế mà hai bên đã ký.
Bộ Thương mại nêu một số ý kiến để Ngân hàng Nhà nước tham khảo.
|
| Đào Ngọc Vinh (Đã ký)
|
Công văn 2491/TM/CA.TBD của Bộ Thương mại về việc thanh toán qua biên giới Việt Nam-Campuchia
- Số hiệu: 2491/TM/CA.TBD
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/06/2002
- Nơi ban hành: Bộ Thương mại
- Người ký: Đào Ngọc Vinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/06/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
