Giới thiệu chung về Công văn 2370/BNN-TCTL
Công văn 2370/BNN-TCTL do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành nhằm đôn đốc, hướng dẫn các địa phương khẩn trương triển khai các biện pháp cấp bách và lâu dài để xử lý tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân và các công trình hạ tầng thiết yếu trước diễn biến phức tạp của thiên tai và biến đổi khí hậu.
- Các nội dung chỉ đạo trọng tâm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Để chủ động ứng phó và giảm thiểu tối đa thiệt hại do sạt lở gây ra, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện các nhóm nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Rà soát, phân loại và đánh giá mức độ sạt lở: Các địa phương cần khẩn trương tổ chức kiểm tra, khảo sát thực địa để xác định chính xác các khu vực đang xảy ra sạt lở bờ sông, bờ biển. Trên cơ sở đó, tiến hành phân loại mức độ nguy hiểm (đặc biệt nguy hiểm, nguy hiểm, sạt lở bình thường) để có phương án ứng phó phù hợp và kịp thời.
- Cảnh báo và khoanh vùng nguy hiểm: Tại các khu vực sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở cao, chính quyền địa phương phải tổ chức cắm biển cảnh báo, thiết lập hành lang an toàn, nghiêm cấm người và phương tiện không có nhiệm vụ đi vào khu vực nguy hiểm nhằm tránh xảy ra tai nạn đáng tiếc.
- Xây dựng phương án di dời dân cư khẩn cấp: Đối với các hộ dân đang sinh sống tại các khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm, có nguy cơ đổ sập cao, địa phương phải chủ động xây dựng và thực hiện ngay phương án sơ tán, di dời người và tài sản đến nơi an toàn. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ, bố trí đất tái định cư để người dân sớm ổn định cuộc sống.
- Triển khai các biện pháp công trình cấp bách: Sử dụng ngân sách dự phòng của địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện ngay các biện pháp gia cố tạm thời, xử lý cấp bách tại các vị trí sạt lở xung yếu ảnh hưởng trực tiếp đến đê điều, khu dân cư tập trung và hạ tầng kỹ thuật quan trọng.
- Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông và ven biển: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi khai thác cát, sỏi trái phép, không đúng quy hoạch. Việc khai thác quá mức là một trong những nguyên nhân chính làm thay đổi dòng chảy, gây sạt lở nghiêm trọng bờ sông, bờ biển.
- Kiểm soát việc xây dựng công trình ven sông, ven biển: Quản lý chặt chẽ việc cấp phép xây dựng, không để xảy ra tình trạng lấn chiếm hành lang bảo vệ nguồn nước, xây dựng nhà ở và công trình trái phép sát mép bờ sông, bờ biển làm gia tăng tải trọng và nguy cơ sạt lở.
- Đề xuất nhu cầu kinh phí và xây dựng kế hoạch trung, dài hạn
Bên cạnh các giải pháp tình thế trước mắt, Công văn 2370/BNN-TCTL cũng định hướng các địa phương tầm nhìn dài hạn trong công tác phòng, chống sạt lở:
- Tổng hợp nhu cầu hỗ trợ kinh phí: Đối với các công trình xử lý sạt lở quy mô lớn, vượt quá khả năng cân đối ngân sách của địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh cần tổng hợp danh mục dự án, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên và gửi báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
- Xây dựng dự án đầu tư căn cơ: Khuyến khích các địa phương nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp kỹ thuật mới, thân thiện với môi trường trong việc xử lý sạt lở. Lồng ghép các chương trình phòng chống sạt lở vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để đảm bảo tính bền vững.
Ý nghĩa và tầm quan trọng của văn bản
Công văn 2370/BNN-TCTL đóng vai trò là hành lang chỉ đạo kịp thời, giúp các địa phương thống nhất phương án hành động, chủ động phân bổ nguồn lực và phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương. Việc thực hiện nghiêm túc các nội dung trong công văn sẽ góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của, bảo vệ bền vững dải ven sông, ven biển của Việt Nam trước tác động của thiên tai ngày càng cực đoan.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2370/BNN-TCTL | Hà Nội, ngày 17 tháng 08 năm 2011 |
Kính gửi: Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố
Những năm qua, tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển diễn biến rất phức tạp, xảy ra trên hầu hết các địa phương, với xu thế ngày càng gia tăng cả về diện và mức độ nguy hiểm. Để đảm bảo hiệu quả xử lý, đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg ngày 04/01/2011 ban hành quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, Tổng cục Thủy lợi đã có công văn số 81/TCTL-ĐĐ ngày 28/01/2011 hướng dẫn các Tỉnh/Thành phố triển khai thực hiện. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận được nhiều công văn đề nghị xin chủ trương xử lý các công trình sạt lở cấp bách và hỗ trợ kinh phí đầu tư. Qua kiểm tra thực tế tại một số địa phương cho thấy: nhiều hạng mục đề xuất không đúng tiêu chí của Quy chế (như mức độ sạt lở không nguy hiểm; không có đánh giá nguyên nhân, đề xuất giải pháp; không có bản đồ, ảnh khu vực sạt lở…); kinh phí đề nghị quá lớn. Vì vậy, rất khó để các Bộ xem xét tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ về chủ trương hỗ trợ đầu tư.
Để kịp thời xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, đảm bảo an toàn tính mạng tài sản của Nhà nước và nhân dân, đồng thời đảm bảo đúng mục tiêu, đối tượng tiết kiệm tránh lãng phí; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố:
1. Chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các cơ quan chức năng thuộc tỉnh: kiểm tra, rà soát, phân loại, sắp xếp thứ tự ưu tiên theo mức độ sạt lở, cấp độ xung yếu tại các khu vực sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn; chủ động huy động các nguồn lực hợp pháp của địa phương để tổ chức triển khai thực hiện. Trong đó, chú trọng giải pháp phi công trình để đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhà nước và nhân dân, tăng cường ổn định công trình đê điều, phòng, chống lụt, bão.
2. Chỉ báo cáo Chính phủ xin chủ trương đầu tư xây dựng công trình kè bảo vệ đối với các khu vực sạt lở nguy hiểm, đang có diễn biến phức tạp, không thể xử lý được bằng biện pháp phi công trình như di dời dân cư, nhà cửa, công trình. Hồ sơ báo cáo Chính phủ (có gửi cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính) phải đầy đủ nội dung, bản đồ và ảnh khu vực sạt lở như quy định của Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định 01/2011/QĐ-TTg.
3. Để hạn chế sạt lở, đề nghị các tỉnh, thành phố cần tăng cường công tác quản lý lòng sông, bến bãi. Kiểm tra, xử lý nghiêm minh việc khai thác cát sỏi trái phép, chất tải bãi sông; san lấp lòng sông và các hành vi vi phạm Luật đê điều và Pháp lệnh phòng chống lụt bão.
Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quan tâm chỉ đạo thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn 3850/BNN-TCTL xử lý sạt lở khu vực I, thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 2Công văn 3882/BNN-TCTL xử lý sạt lở suối Thanh Thủy bảo vệ dân cư cơ sở hạ tầng, xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 3Công văn 3968/VPCP-KTN chủ trương lập dự án xử lý sạt lở bờ sông đê tả Đà thuộc các huyện Thanh Thủy, Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 4Công văn 87/BNN-TCTL năm 2013 về chủ trương lập dự án xử lý sạt lở bờ sông Ba tại huyện Phú Hòa và huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 5Công văn 5565/VPCP-KTTH năm 2014 xử lý sạt lở bờ biển khu vực xóm Rớ, tỉnh Phú Yên do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 6Công văn 6364/BNN-TCTL năm 2014 xử lý sạt lở bờ biển các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 7Công văn 4141/VPCP-NN năm 2017 khắc phục sạt lở bờ sông Vàm Nao thuộc khu vực ấp Mỹ Hội, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, An Giang do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1Luật Đê điều 2006
- 2Pháp lệnh Phòng chống lụt bão năm 1993
- 3Quyết định 01/2011/QĐ-TTg Ban hành Quy chế xử lý sạt lở bờ sông, biển do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Công văn 3850/BNN-TCTL xử lý sạt lở khu vực I, thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 5Công văn 3882/BNN-TCTL xử lý sạt lở suối Thanh Thủy bảo vệ dân cư cơ sở hạ tầng, xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 6Công văn 3968/VPCP-KTN chủ trương lập dự án xử lý sạt lở bờ sông đê tả Đà thuộc các huyện Thanh Thủy, Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 7Công văn 87/BNN-TCTL năm 2013 về chủ trương lập dự án xử lý sạt lở bờ sông Ba tại huyện Phú Hòa và huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 8Công văn 5565/VPCP-KTTH năm 2014 xử lý sạt lở bờ biển khu vực xóm Rớ, tỉnh Phú Yên do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 9Công văn 6364/BNN-TCTL năm 2014 xử lý sạt lở bờ biển các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 10Công văn 4141/VPCP-NN năm 2017 khắc phục sạt lở bờ sông Vàm Nao thuộc khu vực ấp Mỹ Hội, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, An Giang do Văn phòng Chính phủ ban hành
Công văn 2370/BNN-TCTL xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- Số hiệu: 2370/BNN-TCTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 17/08/2011
- Nơi ban hành: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Người ký: Đào Xuân Học
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 17/08/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
