Tổng quan về Công văn 2176/TTCP-C.IV của Thanh tra Chính phủ
Công văn 2176/TTCP-C.IV được ban hành bởi Thanh tra Chính phủ nhằm đôn đốc, hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng, giúp chuẩn hóa quy trình thông tin, dữ liệu báo cáo, phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước và đánh giá tình hình tham nhũng trên phạm vi cả nước.
- Mục đích ban hành và các yêu cầu chung đối với công tác báo cáo
- Thống nhất biểu mẫu và số liệu: Khắc phục triệt để tình trạng số liệu báo cáo thiếu đồng nhất, không trùng khớp giữa các kỳ báo cáo của các bộ, ngành và địa phương.
- Nâng cao chất lượng thông tin: Đảm bảo thông tin báo cáo phản ánh trung thực, khách quan, toàn diện các nỗ lực cũng như kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng tại từng cơ quan, đơn vị.
- Đảm bảo tính kịp thời: Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong việc tuân thủ thời gian gửi báo cáo về Thanh tra Chính phủ để tổng hợp trình Chính phủ và Quốc hội theo đúng quy định của pháp luật.
- Quy định về kỳ báo cáo và thời hạn gửi báo cáo
- Kỳ báo cáo định kỳ: Xác định rõ mốc thời gian lấy số liệu cho các kỳ báo cáo quý, 6 tháng, 9 tháng và hằng năm để các đơn vị chủ động tổng hợp, tránh việc chồng chéo hoặc bỏ sót thông tin.
- Thời hạn gửi báo cáo: Các bộ, ngành, địa phương phải gửi báo cáo về Thanh tra Chính phủ đúng thời hạn quy định. Việc chậm trễ gửi báo cáo sẽ bị ghi nhận và đánh giá vào kết quả thi đua, hoàn thành nhiệm vụ hằng năm.
- Báo cáo chuyên đề hoặc đột xuất: Thực hiện theo yêu cầu riêng biệt của Thanh tra Chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền khi có các vụ việc phát sinh hoặc phục vụ các chuyên đề giám sát cụ thể.
- Các nội dung cốt lõi bắt buộc phải có trong báo cáo
- Kết quả thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng: Đánh giá chi tiết việc công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; việc xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ; việc thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn; chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.
- Kết quả phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng: Thống kê cụ thể số vụ việc, số đối tượng bị phát hiện qua công tác tự kiểm tra nội bộ, hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và qua công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan chức năng.
- Công tác thu hồi tài sản tham nhũng: Báo cáo rõ tổng số tiền, tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt do tham nhũng; kết quả thu hồi thực tế bằng các biện pháp hành chính và tư pháp.
- Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu: Đánh giá việc thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý, phụ trách.
- Tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan liên quan
- Trách nhiệm của người đứng đầu bộ, ngành, địa phương: Trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng báo cáo, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ tướng Chính phủ về tính chính xác, khách quan của số liệu và nội dung báo cáo của bộ, ngành, địa phương mình.
- Vai trò của cơ quan Thanh tra các cấp: Làm đầu mối tham mưu, giúp lãnh đạo bộ, ngành, địa phương đôn đốc, thu thập thông tin, tổng hợp và xây dựng dự thảo báo cáo đúng tiến độ và chất lượng theo hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ.
- Xử lý trách nhiệm đối với đơn vị vi phạm: Các trường hợp chậm trễ, báo cáo không đầy đủ hoặc số liệu sai lệch, thiếu trung thực sẽ bị phê bình, xem xét thi đua và xử lý trách nhiệm theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THANH TRA CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2176/TTCP-C.IV | Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2011 |
| Kinh gửi: | - Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; |
Căn cứ Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2005, Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật PCTN; Nghị định số 179/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 của Chính phủ ban hành quy chế làm việc của Chính phủ;
Tổng thanh tra Chính phủ hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng Công ty 91 (sau đây gọi chung là bộ, ngành, địa phương) thực hiện chế độ báo cáo với Chính phủ về công tác PCTN như sau:
I. CÁC LOẠI BÁO CÁO CÔNG TÁC PCTN
1. Báo cáo định kỳ
1.1. Các loại báo cáo, thời kỳ lấy số liệu, thời hạn gửi báo cáo:
- Báo cáo tháng:
Báo cáo công tác PCTN trong kỳ từ ngày 16 tháng trước đến ngày 15 của tháng báo cáo. Báo cáo đủ 12 tháng trong năm. Gửi báo cáo chậm nhất vào ngày 20 của tháng báo cáo.
- Báo cáo quý I:
Báo cáo công tác PCTN trong kỳ từ ngày 16 tháng 12 năm trước đến ngày 15 tháng 3. Gửi báo cáo chậm nhất vào ngày 20 tháng 3.
- Báo cáo 6 tháng:
Báo cáo công tác PCTN trong kỳ từ ngày 16 tháng 12 năm trước đến ngày 15 tháng 6. Gửi báo cáo chậm nhất vào ngày 20 tháng 6.
- Báo cáo 9 tháng:
Báo cáo công tác PCTN trong kỳ từ ngày 16 tháng 12 năm trước đến ngày 15 tháng 9. Gửi báo cáo chậm nhất vào ngày 20 tháng 9.
- Báo cáo năm:
Báo cáo công tác PCTN trong kỳ từ ngày 16 tháng 12 năm trước đến ngày 15 tháng 12 của năm báo cáo. Gửi báo cáo chậm nhất vào ngày 25 tháng 12.
- Báo cáo công tác PCTN phục vụ các kỳ họp Quốc hội:
Thực hiện theo yêu cầu của Quốc hội, hướng dẫn của Văn phòng Quốc hội, Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội, Thanh tra Chính phủ.
1.2. Nội dung báo cáo định kỳ:
- Đối với báo cáo tháng: Báo cáo theo mẫu tại Phụ lục số 01.
- Đối với báo cáo quý I, 6 tháng, 9 tháng, năm: Báo cáo theo đề cương tại Phụ lục số 02 và thống kê số liệu theo Phụ lục số 03.
2. Báo cáo chuyên đề, báo cáo khác
- Các báo cáo chuyên đề, báo cáo đột xuất phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước hoặc yêu cầu của Chính phủ thực hiện theo hướng dẫn riêng của Thanh tra Chính phủ hoặc các bộ, ngành, cơ quan khác được giao nhiệm vụ hướng dẫn việc báo cáo.
- Các báo cáo khác do bộ, ngành, địa phương chủ động báo cáo.
3. Cơ quan tham mưu chuẩn bị báo cáo định kỳ về công tác PCTN
Thanh tra bộ, ngành, địa phương là đầu mối chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp chuẩn bị báo cáo định về công tác PCTN. Các cơ quan không có tổ chức Thanh tra nhà nước thì chủ động phân công cơ quan, đơn vị trực thuộc tham mưu chuẩn bị báo cáo.
II. HÌNH THỨC GỬI BÁO CÁO, NƠI NHẬN BÁO CÁO
1. Hình thức gửi báo cáo
Báo cáo được gửi bằng văn bản hành chính hoặc dữ liệu điện tử (bản quét, có số hiệu văn bản, chữ ký, dấu) hoặc gửi qua đường fax. Các báo cáo mật thì gửi theo quy định đối với tài liệu mật.
2. Nơi nhận báo cáo
Báo cáo gửi về Thanh tra Chính phủ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm báo cáo và xét thấy cần báo cáo.
Địa chỉ nhận báo cáo của Thanh tra Chính phủ như sau:
- Thanh tra Chính phủ: Lô D29, Khu đô thị mới Yên Hoà, đường Trần Thái Tông, phường Yên Hoà, quận Cậu Giấy, thành phố Hà Nội;
- Fax: 080.48832
- Hộp thư điện tử: cucchongthamnhung@thanhtra.gov.vn
Thanh tra Chính phủ trân trọng đề nghị các bộ, ngành, địa phương thực hiện hướng dẫn nêu trên kể từ 01/10/2011. Quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh về Thanh tra Chính phủ (qua Cục Chống tham nhũng) để được giải dáp./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG THANH TRA |
|
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
|
Công văn 2176/TTCP-C.IV thực hiện chế độ báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng do Thanh tra Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 2176/TTCP-C.IV
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 15/08/2011
- Nơi ban hành: Thanh tra Chính phủ
- Người ký: Trần Đức Lượng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/08/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra

