Công văn 2062/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhằm giải đáp các thắc mắc và hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động, đặc biệt tập trung vào việc giải quyết trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm trong các trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp.
Văn bản này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động và người lao động trong phạm vi cả nước nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên khi chấm dứt hợp đồng lao động.
- Nguyên tắc xác định trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm- Khi doanh nghiệp tiến hành chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm tiếp tục sử dụng lao động và thực hiện phương án sử dụng lao động.
- Trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động đối với cả thời gian người lao động làm việc cho mình và thời gian làm việc tại doanh nghiệp trước khi chuyển giao.
- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (nếu có).
- Thời gian làm việc thực tế bao gồm: thời gian trực tiếp làm việc; thời gian thử việc; thời gian được doanh nghiệp cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ ngơi theo quy định của Bộ luật Lao động.
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
- Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc hoặc mất việc làm.
- Trường hợp người lao động làm việc cho người sử dụng lao động theo nhiều hợp đồng lao động nối tiếp nhau thì tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.
- Trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, doanh nghiệp phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo đúng quy định của Bộ luật Lao động.
- Việc cho người lao động thôi việc trong trường hợp này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi ý kiến với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cho người lao động.
- Người lao động bị mất việc làm trong trường hợp này được nhận trợ cấp mất việc làm theo quy định, mỗi năm làm việc được trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
Công văn 2062/LĐTBXH-LĐTL có hiệu lực hướng dẫn kể từ ngày ban hành, là cơ sở pháp lý quan trọng để các doanh nghiệp và cơ quan chức năng địa phương áp dụng thống nhất, hạn chế tranh chấp lao động phát sinh liên quan đến quyền lợi tài chính của người lao động khi chấm dứt quan hệ lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2062/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 28 tháng 06 năm 2011 |
Kính gửi: Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng
Trả lời công văn số 63/CSDT-LĐTL ngày 9/5/2011 của Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng về việc giải đáp chế độ cho người lao động, sau khi xem xét, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh:
Theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động thì khi người lao động thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật (chấm dứt theo Điều 36, Điều 37, các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung) thì công ty có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động.
Vì vậy, trường hợp bà Thanh, sinh ngày 12/11/1956 (chưa đủ điều kiện về tuổi nghỉ hưu) thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng pháp luật thì công ty phải chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động.
2. Trường hợp ông Lê Văn Minh:
Trường hợp ông Minh, 56 tuổi, có 21 năm đóng bảo hiểm xã hội và 17 năm làm nghề nặng nhọc, độc hại thì đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội.
Tuy nhiên, tại thời điểm ông Minh có đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động mà công ty chưa làm thủ tục để giải quyết chế độ hưu trí cho ông Minh thì công ty phải trả trợ cấp thôi việc cho ông Minh theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động.
3. Trường hợp bà Trần Thị Mai:
Trường hợp bà Mai, 46 tuổi, có 22 năm đóng bảo hiểm xã hội và đã giám định y khoa và bị suy giảm khả năng lao động 62%, vì vậy, khi bà Mai có đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động mà đã giám định sức khỏe theo giới thiệu của công ty để giải quyết chế độ hưu trí thì bà Mai không được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP nêu trên và điểm b, khoản 2, mục III Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
4. Trường hợp ông Trần Thanh Hải:
Theo quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 5 Thông tư số 07/2010/TT-BYT ngày 5/4/2010 của Bộ Y tế hướng dẫn việc giám định mức suy giảm khả năng lao động của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì việc giám định y khoa phải có giấy giới thiệu của người sử dụng lao động và giấy đề nghị giám định khả năng lao động của người lao động.
Vì vậy, trường hợp ông Hải, 49 tuổi, có 21 năm đóng bảo hiểm xã hội và 16 năm làm nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, không có giấy đề nghị giám định suy giảm khả năng lao động và có đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động để chuyển sang làm cơ quan khác thì công ty phải chi trả trợ cấp thôi việc theo đúng quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động.
Đề nghị Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng thực hiện theo đúng quy định.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Luật Bảo hiểm xã hội 2006
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002
- 4Nghị định 44/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ Luật lao động về hợp đồng lao động
- 5Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 6Thông tư 07/2010/TT-BYT hướng dẫn việc giám định mức suy giảm khả năng lao động của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc do Bộ Y tế ban hành
Công văn 2062/LĐTBXH-LĐTL giải đáp chế độ cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 2062/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/06/2011
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/06/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
