Công văn 2059/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhằm giải quyết và hướng dẫn chi tiết về chế độ trợ cấp thôi việc cho bà Hồ Thị Hà. Văn bản tập trung làm rõ phương án tính thời gian làm việc, xác định trách nhiệm chi trả của người sử dụng lao động và các khoảng thời gian được khấu trừ khi tính trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng trực tiếp đối với trường hợp giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc của bà Hồ Thị Hà. Đồng thời, đây cũng là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, người sử dụng lao động và người lao động tham chiếu khi giải quyết các tranh chấp hoặc vướng mắc tương tự liên quan đến việc tính trợ cấp thôi việc cho người lao động có thời gian làm việc kéo dài qua nhiều thời kỳ chính sách khác nhau.
Xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó.
- Thời gian làm việc thực tế bao gồm: thời gian làm việc theo hợp đồng lao động; thời gian thử việc; thời gian được cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản; thời gian nghỉ hằng năm và các khoảng thời gian khác được tính là thời gian làm việc thực tế theo quy định của Bộ luật Lao động.
- Thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm thời gian người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên tại đơn vị, với mức trợ cấp mỗi năm làm việc bằng một nửa tháng tiền lương.
- Đối với các giai đoạn làm việc trước khi chính sách bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực (trước ngày 01 tháng 01 năm 2009), người sử dụng lao động có nghĩa vụ chi trả trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian này nếu người lao động đủ điều kiện.
- Đối với khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 trở đi, do người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, trách nhiệm giải quyết chế độ trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động thuộc về cơ quan bảo hiểm xã hội thông qua chế độ trợ cấp thất nghiệp, người sử dụng lao động không phải chi trả trợ cấp thôi việc cho thời gian này.
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
- Trường hợp người lao động làm việc theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau thì tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.
Hiệu lực và hướng dẫn thi hành
Công văn 2059/LĐTBXH-LĐTL có hiệu lực áp dụng ngay từ ngày ban hành. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội yêu cầu các bên liên quan căn cứ vào hồ sơ nhân sự, quá trình đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp thực tế của bà Hồ Thị Hà để thực hiện việc tính toán và chi trả trợ cấp thôi việc đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động theo đúng tinh thần của Bộ luật Lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2059/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 28 tháng 06 năm 2011 |
Kính gửi: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế
Trả lời công văn số 731/LĐTBXH-LĐTL ngày 06/6/2011 của quý Sở về chế độ trợ cấp thôi việc cho bà Hồ Thị Hà, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định doanh nghiệp khi sử dụng lao động phải thực hiện giao kết hợp đồng lao động; điểm d khoản 2 Điều 2 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP quy định đối với thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp không thuộc đối tượng áp dụng hợp đồng lao động.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP thì khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc đối với người lao động đã làm việc từ đủ 12 tháng trở lên trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 36, Điều 37, các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 41, điểm c khoản 1 Điều 85 của Bộ luật Lao động.
Theo công văn trình bày của quý Sở thì trường hợp của bà Hồ Thị Hà có thời gian là người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động và có thời gian giữ chức vụ Ủy viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp.
Vì vậy, đề nghị quý Sở căn cứ vào diễn biến quá trình làm việc của bà Hà, xác định cụ thể thời gian thực hiện theo hợp đồng lao động để làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc khi thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động. Cách tính trả trợ cấp thôi việc cụ thể được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP và Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Trên đây là ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trả lời để quý Sở biết và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện./.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn 2059/LĐTBXH-LĐTL về trợ cấp thôi việc cho bà Hồ Thị Hà do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 2059/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/06/2011
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/06/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
