Tóm tắt Công văn 1827/CT-TTHT về vướng mắc thực hiện Luật thuế bảo vệ môi trường
Công văn số 1827/CT-TTHT do Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành nhằm báo cáo và kiến nghị giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Luật Thuế bảo vệ môi trường. Văn bản tập trung làm rõ các vấn đề thực tiễn liên quan đến đối tượng chịu thuế, phương pháp tính thuế và quy trình quản lý thuế đối với các sản phẩm thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường, đặc biệt là túi ni lông và bao bì đóng gói sẵn.
Các nội dung vướng mắc cốt lõi được báo cáo:
- Xác định đối tượng chịu thuế đối với túi ni lông: Văn bản nêu lên những khó khăn trong việc phân biệt giữa túi ni lông thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường và các loại túi ni lông thân thiện với môi trường hoặc túi nhựa chuyên dùng để đóng gói sản phẩm. Việc thiếu các tiêu chí kỹ thuật rõ ràng gây lúng túng cho cả cơ quan thuế và doanh nghiệp trong quá trình áp dụng thực tế.
- Thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì đóng gói sẵn: Vướng mắc phát sinh về việc xác định nghĩa vụ thuế đối với bao bì tự sản xuất hoặc nhập khẩu để đóng gói sản phẩm. Doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại khi chứng minh bao bì được sử dụng trực tiếp vào việc đóng gói sản phẩm để được hưởng chính sách miễn thuế theo quy định của pháp luật.
- Phương pháp tính thuế và căn cứ tính thuế: Báo cáo chỉ ra những bất cập trong việc xác định trọng lượng, số lượng sản phẩm chịu thuế trong các trường hợp hàng hóa nhập khẩu hỗn hợp hoặc sản phẩm có chứa thành phần ni lông đa lớp, gây khó khăn cho công tác hành chính thuế.
- Kiến nghị và đề xuất giải pháp: Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh đề xuất các cơ quan quản lý cấp trên ban hành hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn về quy trình kiểm tra, giám sát và các chứng từ cần thiết để doanh nghiệp chứng minh đối tượng không chịu thuế, nhằm tạo sự thống nhất trong thực thi pháp luật trên toàn quốc.
Ý nghĩa và tác động của văn bản:
Công văn 1827/CT-TTHT là cơ sở thực tế quan trọng giúp các cơ quan ban hành chính sách nắm bắt được những bất cập từ thực tiễn áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường. Nội dung kiến nghị trong văn bản góp phần làm tiền đề cho việc sửa đổi, bổ sung các thông tư hướng dẫn, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1827/CT-TTHT | TP.Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 03 năm 2012 |
Kính gửi: Ủy Ban Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh
Thực hiện chỉ đạo của Ủy Ban nhân dân TP Hồ Chí Minh tại văn bản số 1623/VP-CNN ngày 13-03-2012 về việc báo cáo các nội dung trả lời kiến nghị của Doanh nghiệp (DN) tại hội nghị gặp gỡ đầu năm giữa lãnh đạo Thành phố với DN, Cục thuế Tp. HCM xin báo cáo như sau:
Theo bản tổng hợp tình hình khó khăn của DN ngày 05-03-2012 của Hiệp hội DN Tp HCM mà đại diện Hiệp hội nhựa Tp đã nêu ý kiến tại buổi hội nghị sáng 13-03-2012 và sau hơn 2 tháng thực hiện Luật thuế Bảo vệ môi trường đã phát sinh một số vướng mắc đối với sản phẩm túi ni lông.
- Tại Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế Bảo vệ môi trường quy định đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường:
“4. Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.”
Việc xác định sản phẩm túi ni lông thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường hiện nay gặp khó khăn do có các vướng mắc sau:
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về “túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường”, dẫn đến việc các DN sản xuất sản phẩm túi ni lông làm từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE khi bán ra đều phải nộp thuế bảo vệ môi trường.
+ Đối với sản phẩm làm từ nhựa màng đơn polyetylen (PE) hoặc có nhiều lớp (trong đó có ít nhất 1 lớp làm từ màng nhựa đơn PE) ở dạng cuộn, tấm, màng:
Thực tế tại địa bàn Tp Hồ Chí Minh có một số sản phẩm làm từ nhựa màng đơn polyetylen (PE) hoặc có nhiều lớp ở dạng cuộn có khổ rộng, độ dày mỏng khác nhau; khi mua sản phẩm dạng cuộn này về, người sử dụng có thể dùng máy ép, máy dán … để làm thành bao bì kín có đáy, có thể cắt thành tấm (bao bì hở) để đóng gói hàng hóa, có thể dùng làm bạt phủ, che đậy hàng hóa, làm mái che … Do vậy, rất khó xác định mục đích sử dụng khi mua sản phẩm này.
+ Đối với sản phẩm túi ni lông, bao bì nhiều lớp có PE:
Hiện nay có một số nhà sản xuất sản phẩm túi ni lông, bao bì nhiều lớp, trong đó chỉ có một lớp từ màng nhựa đơn PE có chịu thuế bảo vệ môi trường hay không và cách tính thuế chưa có hướng dẫn cụ thể.
+ Các DN cho rằng mức thuế tuyệt đối 40.000 đồng/1Kg đối với sản phẩm túi ni lông là quá cao (tương đương giá bán trước khi áp dụng thuế bảo vệ môi trường).
Cục thuế Tp HCM đã có văn bản báo cáo và xin ý kiến giải quyết các vướng mắc trên gửi Tổng cục thuế; Mặt khác, theo phản ánh của các Doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố thì hiện nay việc thực hiện Luật thuế bảo vệ môi trường đối với sản phẩm túi ni lông (sản phẩm dạng cuộn, bao bì nhiều lớp) ở các Tỉnh, Thành phố chưa thống nhất dẫn đến giá bán của các sản phẩm này chênh lệch nhau rất nhiều, cạnh tranh không lành mạnh và gây phản ứng cho các Doanh nghiệp.
Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh xin báo cáo.
|
Nơi nhận: | KT. CỤC TRƯỞNG |
Công văn 1827/CT-TTHT báo cáo vướng mắc khi thực hiện Luật thuế bảo vệ môi trường do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- Số hiệu: 1827/CT-TTHT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/03/2012
- Nơi ban hành: Cục thuế TP Hồ Chí Minh
- Người ký: Nguyễn Trọng Hạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/03/2012
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
