Tóm tắt Công văn 1703/TCT-CS về thanh toán qua ngân hàng đối với hoạt động xuất khẩu
Công văn 1703/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng liên quan đến điều kiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, đặc biệt đi sâu vào các quy định và tính hợp lệ của chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Dưới đây là chi tiết các nội dung chính sách cốt lõi được quy định:
1. Nguyên tắc chung về điều kiện thanh toán qua ngân hàng
Để được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% và thực hiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, cơ sở kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện thanh toán qua ngân hàng:
- Tiền thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải được chuyển từ tài khoản của khách hàng nước ngoài (bên nhập khẩu) mở tại ngân hàng nước ngoài sang tài khoản của bên xuất khẩu Việt Nam mở tại các ngân hàng thương mại được phép hoạt động tại Việt Nam.
- Hình thức, đồng tiền và phương thức thanh toán phải được quy định rõ ràng, cụ thể trong hợp đồng xuất khẩu (hoặc các phụ lục hợp đồng kèm theo).
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện rõ tên người chuyển tiền, số tài khoản chuyển, số tiền thanh toán, tên người thụ hưởng và số tài khoản thụ hưởng phù hợp với thông tin trên hợp đồng.
2. Các trường hợp đặc thù được coi là thanh toán qua ngân hàng
Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể một số trường hợp thanh toán đặc biệt vẫn được chấp nhận để khấu trừ, hoàn thuế nếu đáp ứng đủ các hồ sơ pháp lý đi kèm:
- Thanh toán bù trừ công nợ: Trường hợp xuất khẩu hàng hóa nhưng thanh toán bằng hình thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu hoặc bù trừ các khoản nợ phải thu, phải trả khác. Doanh nghiệp phải có quy định cụ thể về phương thức bù trừ trong hợp đồng, có biên bản đối chiếu công nợ định kỳ và chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với phần chênh lệch (nếu có).
- Thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba: Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ ba (là tổ chức hoặc cá nhân ở nước ngoài) thực hiện thanh toán. Việc ủy quyền này phải được quy định rõ trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng bằng văn bản trước khi thực hiện thanh toán.
- Thanh toán từ tài khoản vãng lai hoặc tài khoản tiền gửi: Trường hợp phía nước ngoài thanh toán từ tài khoản tiền gửi, tài khoản vãng lai của tổ chức, cá nhân nước ngoài mở tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam. Dòng tiền thanh toán phải đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
3. Yêu cầu kiểm tra, đối chiếu chứng từ của cơ quan thuế
Nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận hoàn thuế GTGT qua hoạt động xuất khẩu, cơ quan thuế tập trung kiểm tra các nội dung sau:
- Sự trùng khớp về thông tin đối tác nước ngoài trên hợp đồng xuất khẩu, tờ khai hải quan, hóa đơn thương mại và chứng từ thanh toán ngân hàng.
- Trường hợp có sự chênh lệch giữa số tiền thực tế thanh toán qua ngân hàng với giá trị hàng hóa ghi trên tờ khai hải quan, doanh nghiệp phải có văn bản giải trình rõ lý do hợp lý (như phí ngân hàng, chiết khấu thương mại, phạt vi phạm hợp đồng...).
- Các trường hợp thanh toán không rõ nguồn gốc dòng tiền, hoặc dòng tiền chuyển lòng vòng không thực chất từ nước ngoài về Việt Nam sẽ bị từ chối khấu trừ, hoàn thuế GTGT và xử lý theo quy định pháp luật.
4. Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp xuất khẩu
Doanh nghiệp cần chủ động thực hiện các biện pháp sau để đảm bảo an toàn pháp lý khi hoàn thuế:
- Rà soát kỹ lưỡng các điều khoản thanh toán trong hợp đồng thương mại quốc tế trước khi ký kết, đảm bảo tính thống nhất với phương thức thanh toán thực tế.
- Lập và lưu trữ khoa học hệ thống hồ sơ xuất khẩu bao gồm: Hợp đồng, hóa đơn, tờ khai hải quan đã thông quan, chứng từ thanh toán ngân hàng và các văn bản thỏa thuận liên quan.
- Chủ động phối hợp với ngân hàng phục vụ để lấy xác nhận báo có đầy đủ thông tin người chuyển tiền từ nước ngoài nhằm phục vụ công tác giải trình thuế khi có yêu cầu thanh tra, kiểm tra.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1703/TCT-CS | Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2011 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Nam Định.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 276/CT-THVNDT ngày 26/01/2011 của Cục thuế tỉnh Nam Định về thanh toán qua ngân hàng đối với hoạt động xuất khẩu. Sau khi tổng hợp ý kiến tham gia của Vụ Chính sách thuế, Vụ Pháp chế, Vụ Tài chính ngân hàng - Bộ Tài chính và báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm 1.2 mục II phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về điều kiện để áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với hàng hoá xuất khẩu thì:
“1.2. Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% phải đáp ứng điều kiện:
- Có hợp đồng bán, gia công hàng hoá xuất khẩu; hợp đồng uỷ thác xuất khẩu hoặc uỷ thác gia công hàng hoá xuất khẩu; hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan;
- Có chứng từ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật;
- Có tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu...”
Tại điểm 1.3.c.3 mục III phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC nêu trên hướng dẫn một số trường hợp cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng thì:
“+ Trường hợp cơ sở xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng nhưng phía nước ngoài uỷ quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán thì việc thanh toán theo uỷ quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng - nếu có);
+ Trường hợp phía nước ngoài yêu cầu bên thứ 3 là tổ chức ở Việt Nam thanh toán bù trử công nợ với phía nước ngoài bằng thực hiện thanh toán qua ngân hàng số tiền phía nước ngoài phải thanh toán cho bên xuất khẩu và việc yêu cầu thanh toán bù trừ công nợ nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có) và có chứng từ thanh toán là giấy báo có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản bên thứ 3, đồng thời bên xuất khẩu phải xuất trình bản đối chiếu công nợ có xác nhận của bên nước ngoài và bên thứ 3”.
Theo trình bày của Cục thuế tỉnh Nam Định tại công văn số 276/CT-THVNDT nêu trên, nêu Công ty TNHH Việt Cường ký hợp đồng xuất khẩu hàng hoá với ông Phạm Thanh Hải (khách hàng ở Angola), ông Phạm Thanh Hải uỷ quyền cho Công ty Amazén Salomas Comercial De Xa Vier Salomon Da Silva tại Angola (doanh nghiệp thứ ba) thực hiện thanh toán qua ngân hàng cho lô hàng xuất khẩu của Công ty Việt Cường, sau đó doanh nghiệp thứ ba uỷ quyền tiếp cho Công ty TNHH Xuất nhập khẩu thương mại Trường Xuân ở Việt Nam (doanh nghiệp thứ tư) chịu trách nhiệm thanh toán qua ngân hàng cho bên xuất khẩu (có chứng từ thanh toán do ngân hàng xác nhận), trong đó doanh nghiệp thứ tư đang thực hiện hợp đồng nhập khẩu mặt hàng sắt vụn của doanh nghiệp thứ ba ở Angola, toàn bộ việc uỷ quyền thanh toán giữa các doanh nghiệp nêu trên đều được quy định tại hợp đồng và phụ lục hợp đồng, Công ty TNHH Việt Cường có bản đối chiếu công nợ với ông Phạm Thanh Hải về việc thanh toán tiền hàng và có biên bản đối chiếu công nợ (có xác nhận) giữa doanh nghiệp thứ ba và doanh nghiệp thứ tư thì hình thức thanh toán qua ngân hàng này được coi là đủ điều kiện về chứng từ thanh toán qua ngân hàng và Công ty TNHH Việt Cường được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào của số nguyên vật liệu tương ứng với lô hàng hoá mà Công ty đã xuất khẩu.
Đề nghị Cục thuế tỉnh Nam Định căn cứ quy định pháp luật và tình hình thực tế của doanh nghiệp để hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện theo quy định./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 1703/TCT-CS về thanh toán qua ngân hàng đối với hoạt động xuất khẩu do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 1703/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 16/05/2011
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Cao Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/05/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
