Tổng quan về Công văn 1445/TCT-CS
Công văn 1445/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Đây là cơ sở pháp lý chặt chẽ để cơ quan thuế địa phương và các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào, đồng thời xác định các khoản chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ có giá trị lớn.
Các quy định cốt lõi về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Theo nội dung hướng dẫn từ Tổng cục Thuế, điều kiện và tính hợp lệ của chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được quy định chi tiết như sau:
- Nguyên tắc thanh toán qua ngân hàng: Giao dịch thanh toán phải được thực hiện thông qua việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
- Yêu cầu đối với tài khoản giao dịch: Tài khoản ngân hàng của cả bên mua và bên bán phải là tài khoản đã được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế theo đúng quy định tại thời điểm thực hiện giao dịch thanh toán.
- Chứng từ thanh toán hợp lệ: Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được chấp nhận bao gồm chứng từ báo Nợ của ngân hàng bên mua và chứng từ báo Có của ngân hàng bên bán, hoặc các chứng từ chuyển tiền hợp pháp khác do tổ chức tín dụng cấp thể hiện rõ dòng tiền đã được chuyển giao giữa hai chủ thể.
- Ngưỡng giá trị bắt buộc: Tất cả các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT) bắt buộc phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng để đủ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thuế TNDN.
Các trường hợp đặc biệt được thừa nhận là thanh toán không dùng tiền mặt
Công văn cũng làm rõ một số phương thức thanh toán đặc thù được coi là hợp lệ và tương đương với thanh toán qua ngân hàng nếu đáp ứng đầy đủ hồ sơ, chứng từ đi kèm:
- Phương thức bù trừ công nợ: Trường hợp hai bên mua và bán có giao dịch xuất nhập khẩu hoặc mua bán hàng hóa, dịch vụ lẫn nhau và thực hiện bù trừ công nợ thì phải có biên bản đối chiếu công nợ và văn bản thỏa thuận bù trừ công nợ giữa hai bên theo đúng quy định pháp luật.
- Thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba: Việc thanh toán thông qua một bên thứ ba được ủy quyền phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong hợp đồng mua bán ban đầu hoặc phụ lục hợp đồng. Đồng thời, chứng từ chuyển khoản phải thể hiện rõ việc thanh toán cho bên thứ ba theo đúng thỏa thuận đã ký kết.
- Thanh toán qua tài khoản của cá nhân được ủy quyền: Đối với một số trường hợp đặc thù, nếu doanh nghiệp thanh toán qua tài khoản của cá nhân là người lao động của doanh nghiệp để mua hàng hóa, dịch vụ thì phải có quyết định ủy quyền của doanh nghiệp, hóa đơn chứng từ mua bán mang tên doanh nghiệp và chứng từ chuyển khoản rõ ràng từ tài khoản doanh nghiệp sang tài khoản cá nhân, sau đó từ tài khoản cá nhân chuyển cho bên bán.
Hệ quả pháp lý khi không đáp ứng điều kiện thanh toán
Doanh nghiệp cần lưu ý các chế tài và hệ quả thuế phát sinh nếu không tuân thủ đúng quy định về chứng từ thanh toán:
- Không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Các khoản thuế GTGT đầu vào của hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên nếu thanh toán bằng tiền mặt hoặc thanh toán qua ngân hàng nhưng không đúng quy định sẽ bị cơ quan thuế loại ra, không cho phép khấu trừ.
- Bị loại khỏi chi phí được trừ khi tính thuế TNDN: Toàn bộ giá trị mua hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ sẽ không được tính vào chi phí hợp lý, làm tăng thu nhập chịu thuế và tăng nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp.
Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp
Để đảm bảo an toàn pháp lý về thuế và tối ưu hóa quyền lợi hợp pháp, doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp sau:
- Thường xuyên rà soát, đối chiếu thông tin tài khoản ngân hàng của đối tác trên hệ thống thông tin của cơ quan thuế trước khi thực hiện chuyển tiền.
- Lưu trữ đầy đủ, khoa học các chứng từ báo nợ, báo có, ủy nhiệm chi đi kèm với hóa đơn và hợp đồng thương mại tương ứng để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
- Xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ chặt chẽ đối với các khoản chi tiêu có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng tiền mặt không đúng quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1445/TCT-CS | Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2011 |
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 7236/CT-TTHT ngày 04/11/2010 của Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh gửi kèm công văn của Công ty cổ phần dịch vụ di động trực tuyến đề nghị hướng dẫn về hình thức thanh toán thông qua ví điện tử. Về vấn đề này, sau khi xin ý kiến tham gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 1.3 mục III Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT hướng dẫn:
“1.3. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào quy định như sau:
a) Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.
Hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn trên hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ. Đối với những hoá đơn này, cơ sở kinh doanh kê khai vào mục riêng trong bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào”.
Căn cứ hướng dẫn trên và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước tại công văn số 2228/NHNN-TT ngày 21/3/2011, trường hợp Công ty cổ phần dịch vụ di động Trực tuyến (Công ty M_Service) được Ngân hàng Nhà nước cho phép cung cấp dịch vụ thanh toán thông qua ví điện tử theo hình thức như sau: khách hàng và nhà cung cấp mở tài khoản Ví điện tử tại Công ty M_Service, khách hàng chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng sang tài khoản Ví điện tử, thao tác này thực hiện trên điện thoại di động. Khách hàng mua hàng hoá, dịch vụ của nhà cung cấp, thanh toán bằng ví điện tử thì Công ty M_Service thực hiện chuyển tiền từ ví điện tử của khách hàng sang ví điện tử của nhà cung cấp, sau đó chuyển tiền về tài khoản ngân hàng của nhà cung cấp, hình thức thanh toán này không dùng tiền mặt. Hình thức thanh toán trên được coi là đủ điều kiện về thanh toán qua ngân hàng trong việc kê khai, khấu trừ thuế GTGT. Chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán được Công ty M_Service và Ngân hàng xác nhận, cung cấp cho khách hàng là căn cứ khi kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được biết./.
|
Nơi nhận: | KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 2524/TCT-CS về chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 4526/TCT-KK vướng mắc chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 1245/TCT-KK về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 2Công văn 2524/TCT-CS về chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 4526/TCT-KK vướng mắc chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 1245/TCT-KK về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 1445/TCT-CS về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 1445/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 27/04/2011
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Cao Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/04/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
