Tổng quan về Công văn 1220/TCT-CS của Tổng cục Thuế
Công văn 1220/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến việc lập hóa đơn, kê khai và nộp thuế đối với tài sản bảo đảm, tài sản thi hành án được đưa ra bán đấu giá. Văn bản này giúp thống nhất quy trình phối hợp giữa cơ quan Thuế, cơ quan Thi hành án dân sự (THADS) và các tổ chức đấu giá tài sản, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người mua trúng đấu giá và tránh thất thu ngân sách nhà nước.
1. Nguyên tắc xác định nghĩa vụ thuế đối với tài sản đấu giá thi hành án
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, việc xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với tài sản thi hành án được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT: Tài sản bảo đảm của tổ chức, cá nhân được bán để thu hồi nợ thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật về thuế GTGT hiện hành.
- Trường hợp phải chịu thuế GTGT: Đối với các tài sản khác không thuộc diện miễn trừ hoặc không thuộc trường hợp không phải kê khai tính thuế, khi cơ quan thi hành án thực hiện bán đấu giá để thi hành nghĩa vụ thanh toán, tài sản đó vẫn phải chịu thuế GTGT theo thuế suất quy định đối với từng loại mặt hàng cụ thể.
- Phân định loại tài sản khi tính thuế: Quyền sử dụng đất chuyển nhượng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, nhưng tài sản gắn liền với đất (như nhà xưởng, công trình xây dựng) của doanh nghiệp thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì phải tách biệt giá trị để tính thuế và xuất hóa đơn đúng quy định.
2. Quy định về đối tượng và trách nhiệm xuất hóa đơn
Công văn 1220/TCT-CS làm rõ trách nhiệm của các bên trong việc lập và giao hóa đơn cho người mua trúng đấu giá tài sản:
- Trường hợp doanh nghiệp có tài sản bị cưỡng chế tự xuất hóa đơn: Nếu doanh nghiệp (chủ tài sản) vẫn đang hoạt động bình thường và phối hợp chấp hành, doanh nghiệp có trách nhiệm lập hóa đơn GTGT giao cho người mua tài sản đấu giá theo đúng giá trị tài sản bán đấu giá thành công.
- Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự hoặc tổ chức đấu giá xuất hóa đơn: Trong trường hợp doanh nghiệp có tài sản bị kê biên không thực hiện hoặc không thể thực hiện việc xuất hóa đơn (do ngừng hoạt động, bỏ trốn, hoặc không hợp tác), cơ quan THADS hoặc tổ chức bán đấu giá tài sản sẽ liên hệ với cơ quan Thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn thủ tục cấp hóa đơn lẻ (hóa đơn bán hàng) hoặc hóa đơn do cơ quan Thuế cấp theo từng lần phát sinh để giao cho người mua.
- Sử dụng chứng từ thay thế hóa đơn: Đối với một số trường hợp đặc thù theo quy định pháp luật về quản lý thuế, các chứng từ thu tiền của cơ quan THADS, quyết định giao tài sản, biên bản bàn giao tài sản trúng đấu giá cũng được xem là căn cứ pháp lý để người mua làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
3. Thủ tục cấp hóa đơn lẻ từ cơ quan Thuế
Để đảm bảo tính pháp lý cho người mua tài sản đấu giá, quy trình đề nghị cơ quan Thuế cấp hóa đơn lẻ được thực hiện như sau:
- Hồ sơ đề nghị cấp hóa đơn: Cơ quan THADS hoặc tổ chức đấu giá chuẩn bị hồ sơ gồm quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, biên bản bán đấu giá thành công, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá và chứng từ nộp tiền của người mua.
- Nghĩa vụ tài chính trước khi cấp hóa đơn: Cơ quan Thuế sẽ thực hiện tính toán số thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp (hoặc thuế thu nhập cá nhân) phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng tài sản. Số tiền thuế này sẽ được khấu trừ trực tiếp từ tiền bán đấu giá tài sản trước khi cơ quan THADS thực hiện phân chia cho các nghĩa vụ thanh toán khác.
- Thời hạn giải quyết: Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và xác nhận tiền thuế đã được nộp vào ngân sách nhà nước, cơ quan Thuế thực hiện cấp hóa đơn lẻ cho cơ quan THADS hoặc tổ chức đấu giá để bàn giao cho người mua.
4. Sự phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan Thi hành án dân sự
Để tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực tế, Công văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp liên ngành:
- Trao đổi thông tin kịp thời: Cơ quan THADS có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan Thuế về kế hoạch bán đấu giá tài sản của các đối tượng nợ thuế để cơ quan Thuế kịp thời theo dõi, xác định nghĩa vụ thuế phát sinh.
- Ưu tiên thanh toán nợ thuế: Tiền bán đấu giá tài sản thi hành án phải được ưu tiên thanh toán cho các khoản nợ thuế của người phải thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Luật Quản lý thuế.
- Giải quyết vướng mắc phát sinh: Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh tranh chấp hoặc vướng mắc về hóa đơn của các tài sản đặc thù (như phương tiện giao thông, dây chuyền máy móc nhập khẩu chưa hoàn thành thủ tục hải quan), hai cơ quan cần chủ động họp bàn và báo cáo cấp trên để có phương án xử lý dứt điểm, tránh kéo dài thời gian bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1220/TCT-CS | Hà Nội, ngày 09 tháng 04 năm 2011 |
| Kính gửi: | - Cục thuế tỉnh Kiên Giang; |
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 05/CV-TPL ngày 17/12/2010 và công văn số 08/CV-TPL ngày 23/12/2010 của Công ty TNHH một thành viên Thiên Phú Lộc, công văn số 16/CV-XDMT ngày 6/1/2011 của Công ty TNHH một thành viên xăng dầu dầu khí Miền Trung về việc xuất hóa đơn đối với tài sản đấu giá. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Điều 12, Điều 14 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định:
“Điều 12. Cấp hóa đơn do Cục Thuế đặt in
1. Cơ quan thuế cấp hóa đơn cho các tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng.
…
Riêng đối với tổ chức, cơ quan nhà nước không thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có bán đấu giá tài sản, trường hợp giá trùng đấu giá là giá bán đã có thuế giá trị gia tăng được công bố rõ trong hồ sơ bán đấu giá do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp hóa đơn giá trị gia tăng để giao cho người mua.”
“Điều 14. Lập hóa đơn
1. Nguyên tắc lập hóa đơn
a) Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh chỉ được lập và giao cho người mua hàng hóa, dịch vụ các loại hóa đơn theo hướng dẫn tại Thông tư này.
b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để trực tiếp quá trình sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa.”
Tại khoản 5, Điều 33 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa cung ứng dịch vụ quy định:
5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ có giá trị thanh toán trên 200.000 đồng cho người mua theo quy định tại Nghị định này. Cùng với việc bị xử phạt, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải lập hóa đơn giao cho người mua.”
Tổng cục Thuế đề nghị Cục thuế căn cứ vào quy định nêu trên và trên cơ sở thực tế hồ sơ cụ thể về vay vốn giữa doanh nghiệp và Ngân hàng để xác định quyền sở hữu đối với tài sản đảm bảo tiền vay bán đấu giá để thi hành án dân sự theo quy định của Luật dân sự.
Trường hợp tài sản trước khi đấu giá vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có tài sản kê biên phải lập hóa đơn khi bán đấu giá tài sản đó. Trường hợp quyền sở hữu trước khi đấu giá đã được cơ quan có thẩm quyền chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác, thì tổ chức, cá nhân được chuyển giao lập hóa đơn cho người trúng đấu giá. Tổ chức, cá nhân lập hóa đơn cho tài sản bị kê biên, bán đấu giá để thi hành án có trách nhiệm nộp thuế phát sinh từ việc bán tài sản theo quy định của pháp luật. Tổ chức, cá nhân có tài sản bị kê biên, bán đấu giá hoặc tổ chức, cá nhân được xác lập quyền sở hữu mới với tài sản có thể thực hiện ủy nhiệm lập hóa đơn cho các tổ chức đấu giá theo quy định tại Điều 15 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010.
Trường hợp doanh nghiệp có tài sản kê biên phải lập hóa đơn khi bán đấu giá tài sản nhưng không thực hiện lập hóa đơn giao cho người mua tài sản kê biên thì cơ quan thuế tiến hành lập Biên bản xử phạt về hành vi bán hàng không lập hóa đơn theo quy định tại khoản 5, Điều 33 Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ và cùng với việc bị xử phạt, doanh nghiệp phải lập hóa đơn cho người mua. Cơ quan thuế theo dõi việc khai và nộp thuế đối với tài sản này theo quy định tại Luật Quản lý thuế và đôn đốc doanh nghiệp có tài sản kê biên thi hành án phải kê khai, nộp đủ số thuế còn thiếu vào NSNN như đối với khoản thuế phát sinh khi doanh nghiệp tự bán tài sản.
Trường hợp doanh nghiệp có tài sản kê biên vẫn tiếp tục không chịu lập hóa đơn sau 10 ngày kể từ ngày bị xử phạt hoặc tài sản đấu giá là tài sản của tổ chức, cá nhân không có hóa đơn thì cơ quan thi hành án lập hóa đơn cho tài sản đấu giá để thi hành án. Cơ quan thuế thực hiện cấp hóa đơn lẻ cho cơ quan thi hành án theo đề nghị để lập hóa đơn giao cho người mua theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính. Trường hợp giá trúng đấu giá là giá bán đã có thuế giá trị gia tăng được công bố rõ trong hồ sơ bán đấu giá do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp hóa đơn giá trị gia tăng để giao cho người mua. Cơ quan thi hành án có trách nhiệm nộp các khoản thuế phát sinh vào NSNN từ việc bán tài sản do mình lập hóa đơn.
Tổng cục Thuế trả lời để các Cục thuế biết và căn cứ tình hình cụ thể hướng dẫn doanh nghiệp theo quy định./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Luật quản lý thuế 2006
- 2Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
- 3Thông tư 153/2010/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ do Bộ Tài chính ban hành
- 4Công văn 5005/TCT-CS năm 2015 về lập hóa đơn khi cơ quan thi hành án bán tài sản liên quan đến vụ án hình sự do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 1220/TCT-CS về hóa đơn đối với tài sản đấu giá thi hành án do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 1220/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 09/04/2011
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Bùi Văn Nam
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/04/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
